Trang 1/4 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 33

Chủ đề: KIến thức Y_Học

  1. #1
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jan 2012
    Bài gửi
    308
    Thanks
    54
    Thanked 48 Times in 40 Posts

    KIến thức Y_Học

    A. Phần thứ nhất

    Một số khái niệm_thuật ngữ trong Y_học


    1. Khái niệm
    a. Y học là gì ?
    Y học là khoa học và nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh.
    b. Bệnh là gì? Bệnh là những bất thường xảy ra ở cơ thể sống làm ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển bình thường của sinh vật.
    Có 6 nhóm nguyên nhân gây nên bất thường ở cơ thể người là:
    . Bẩm sinh. Nguyên nhân bẩm sinh chủ yếu do cơ thể bố hoặc mẹ bị bệnh trước hoặc trong khi mang thai, nguyên nhân bẩm sinh rất hiếm gặp.
    . Hóa chất. Nguyên nhân này xảy ra bởi một hoặc cả hai trường hợp: Thiếu chất dinh dưỡng hoặc nhiễm nhiều chất độc.
    . Nhiễm các vi sinh vật có hại.
    . Sự tác động bất lợi của các yêu tố vật lý . Nguyên nhân này cũng thường xảy ra.
    . Do áp lực của tâm trạng xã hội.
    . Do tác động của các hiện tượng siêu nhiên.
    c. Máu : Máu là một tổ chức di động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương. Chức năng chính của của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức cũng như loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể như khí carbonic và acid lactic.
    ......................
    2. Thuật ngữ trong Y_Học
    a. Nội khoa: Nội khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến việc chẩn đoán và điều trị không phẫu thuật các bệnh của cơ quan bên trong cơ thể, đặc biệt là ở người lớn.
    Các chuyên ngành của nội khoa

    - Huyết học
    - Nội tiết
    - Hô hấp
    - Tiết niệu
    - Xương khớp
    - Tiêu hoá
    - Tim mạch
    - Truyền nhiễm
    - Ung bướu...
    b. Ngoại khoa: Ngoại khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến điều trị bệnh hoặc tổn thương bằng phẫu thuật.
    Các chuyên ngành của ngoại khoa
    - Phẫu thuật chỉnh hình
    - Ghép cơ quan
    - Phẫu thuật mạch máu
    - Nhãn khoa
    - Niệu khoa
    - Phẫu thuật nhi
    - Tai mũi họng
    - Phẫu thuật tạo hình
    - Phẫu thuật thần kinh
    - Phẫu thuật tim - lồng ngực
    - Phẫu thuật tổng quát
    - Reply With Quote
    Kết luận: Ngoại khoa là tác động dao kéo bên ngoài trực tiếp vào bệnh nhân, còn nội khoa là dùng thuốc kích thích cơ thể chống lại bệnh tật.




    Chú ý:
    Những thông tin y khoa của Website võ thuật Thiều gia chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến của Y - Bác sĩ, của những người hoạt động trong lĩnh vực chữa bệnh cứu người, những người có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vậy võ thuật Thiều gia đề nghị: trước khi sử dụng những thông tin này, xin quí vị hãy liên hệ và nhận sự tư vấn từ những người có chuyên môn, những người có trách nhiệm trong lĩnh vực Y - thuật.
    Lần sửa cuối bởi thieugia; 07-04-2013 lúc 09:20 AM
    独步傲游忘世俗
    Độc bộ ngao du vong thế tục
    看遍人间百事奸
    Khán biến nhân gian bách sự gian

  2. #2
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jan 2012
    Bài gửi
    308
    Thanks
    54
    Thanked 48 Times in 40 Posts
    B. Phần thứ hai
    Bệnh Học & Phương pháp phòng - chữa bệnh

    Bệnh tim mạch & Nguyên nhân gây bệnh

    1. Bệnh Tim Mạch: Bệnh tim mạch bao gồm các bệnh có liên quan đến các mạch máu (tĩnh mạch, động mạch và mao mạch) hoặc tim, hoặc cả hai bệnh có ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch.


    Hệ thống tim mạch, còn được gọi là hệ thống tuần hoàn, là hệ thống di chuyển máu đi khắp cơ thể con người. Nó bao gồm tim, động mạch, tĩnh mạch, và mao mạch. Nó vận chuyển máu oxy từ phổi và trái tim trong suốt toàn bộ cơ thể thông qua các động mạch. Máu đi qua các mao mạch tàu nằm giữa tĩnh mạch và động mạch. Khi máu đã bị cạn kiệt oxy, nó làm theo cách của mình trở lại tim và phổi thông qua các tĩnh mạch. Hệ thống tuần hoàn cũng có thể bao gồm việc lưu thông bạch huyết, chủ yếu là tái chế huyết tương sau khi nó đã được lọc từ các tế bào máu và quay trở lại hệ thống bạch huyết. Hệ thống tim mạch không bao gồm hệ bạch huyết. Trong bài viết này, hệ thống tuần hoàn không bao gồm việc lưu thông của bạch huyết.
    Theo Medilexicon từ điển y khoa , tim mạch có nghĩa là: "Liên quan đến tim và các mạch máu lưu thông", hệ thống tuần hoàn của con người.


    Ví dụ về các bệnh có ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch. Bệnh tim mạch (bệnh tim)
    - Đau thắt ngực (được coi như là một bệnh tim và mạch máu).
    - Chứng loạn nhịp tim (vấn đề với nhịp tim, nhịp tim bất thường).
    - Bệnh tim bẩm sinh.
    - bệnh động mạch vành (CAD).
    - Dilated bệnh cơ tim.
    - Nhồi máu cơ tim (nhồi máu cơ tim).
    - Suy tim.
    - phì đại cơ tim.
    - Hai lá trào ngược.
    - Sa van hai lá.
    - Phổi hẹp.
    Bệnh mạch máu (bệnh ảnh hưởng đến các mạch máu động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch), ví dụ bao gồm:
    - Xơ vữa động mạch
    - Bệnh động mạch thận.
    - bệnh Raynaud (Raynaud hiện tượng).
    - Bệnh Buerger.
    - Bệnh tĩnh mạch ngoại vi.
    - Rung tâm nhĩ- được biết đến như là một loại của bệnh mạch máu não
    - Cục máu đông tĩnh mạch.
    - Bloodclotting rối loạn.

    2. Yếu tố - Nguy cơ đối với bệnh tim mạch là gì?

    Yếu tố nguy cơ là một cái gì đó làm tăng cơ hội của bạn phát triển một căn bệnh, rối loạn hay điều kiện. Béo phì là một yếu tố nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2. Các nhà nghiên cứu từ Đại học Northwestern Feinberg School of Medicine báo cáo trong JAMA nguy cơ suốt đời đối với bệnh tim mạch là hơn 50% cho cả nam giới và phụ nữ . Họ nói thêm rằng ngay cả trong số những người có ít hoặc không có yếu tố nguy cơ tim mạch, nguy cơ vẫn còn hơn 30%. Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), Vương quốc Anh, có chín yếu tố nguy cơ chính liên quan đến bệnh tim mạch, đó là:
    Tăng huyết áp ( huyết áp cao ) - đây là một trong những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch cho đến nay. Nếu tăng huyết áp khó kiểm soát, thành động mạch có thể trở nên hư hỏng, làm tăng nguy cơ phát triển một cục máu đông.
    Xạ trị - các nhà khoa học từ Karolinska Institutet, Thụy Điển, báo cáo trong Tạp chí American College of Cardiology xạ trị có thể làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch sau này trong đời.
    Hút thuốc - thường xuyên hút thuốc lá có thể thu hẹp các mạch máu, đặc biệt là động mạch vành.
    Thiếu ngủ - những người ngủ ít hơn 7,5 giờ mỗi ngày có nguy cơ cao phát triển bệnh tim mạch , các nhà nghiên cứu từ Đại học Y khoa Jichi, Tochigi, Nhật Bản, báo cáo trong Archives of Internal Medicine.
    Tăng mỡ máu ( cholesterol trong máu cao ) - có một cơ hội thu hẹp các mạch máu và cục máu đông cao hơn.
    Có một đối tác với ung thư - một người có đối tác có ung thư có nguy cơ cao hơn gần 30% phát triển đột quỵ hoặc bệnh tim mạch vành , các nhà điều tra từ trung tâm Nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại Malmo, Thụy Điển, đã tiết lộ trong tạp chí Circulation.
    Bệnh tiểu đường - điều này bao gồm cả hai loại 1 và 2. Lượng đường trong máu cao có thể gây hại cho động mạch. Những người bị bệnh tiểu đường loại 2 thường thừa cân hoặc béo phì, mà cũng là yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch. Những người bị tiểu đường có 2 đến 4 lần nhiều khả năng chết do bệnh tim hơn những người không bị bệnh tiểu đường. Các chuyên gia nói rằng đường huyết đo kiểm soát có thể giúp dự đoán nguy cơ mắc bệnh tim mạch của một bệnh nhân tiểu đường .
    Ăn uống không lành mạnh - chế độ ăn uống cao trong chất béo kết hợp với carbohydrate , đặc biệt là nếu họ bao gồm chủ yếu là các loại thức ăn nhanh, có thể đẩy nhanh sự tích tụ các mảng chất béo bên trong động mạch, tăng nguy cơ cao huyết áp, béo phì và tăng lipid máu. Chế độ ăn uống thiếu đầy đủ trái cây, rau quả, chất xơ, ngũ cốc nguyên hạt và các chất dinh dưỡng cần thiết không phải là tốt cho sức khỏe tim mạch. Một nghiên cứu được công bố trong BMC Medicine (Tháng 3 năm 2013 vấn đề) thấy rằng tiêu thụ thịt chế biến có liên quan đến phát triển bệnh tim mạch và ung thư .
    Hoạt động thể chất - những người chủ yếu sống một cuộc sống ít vận động có xu hướng có huyết áp cao hơn, nhiều kích thích tố căng thẳng, lượng cholesterol trong máu cao hơn, và có nhiều khả năng bị thừa cân.

    Đây là tất cả các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch.
    Uống quá nhiều rượu - những người uống quá nhiều có xu hướng có huyết áp cao và lượng cholesterol trong máu.
    Stress - hoóc môn liên quan (tâm thần) căng thẳng, chẳng hạn như cortisone, làm tăng lượng đường trong máu. Căng thẳng cũng liên quan đến huyết áp cao.
    Ô nhiễm không khí - Belgian nhà nghiên cứu báo cáo trong tạp chí The Lancet rằng ô nhiễm không khí gây ra khoảng cùng một số cơn đau tim như các yếu tố nguy cơ cá nhân khác . Các nhà nghiên cứu đánh giá 36 nghiên cứu riêng biệt, tập trung vào ô nhiễm không khí.
    COPD và giảm chức năng phổi - một nghiên cứu được trình bày tại Đại hội thường niên của Hiệp hội hô hấp châu Âu ở Amsterdam, cho thấy rằng những người bị COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) có nguy cơ phát triển bệnh tim mạch . Các nhà nghiên cứu từ Bệnh viện Sunderby ở Thụy Điển, nói thêm rằng những bệnh nhân có giảm chức năng phổi cũng có nguy cơ cao.
    Tuổi đầu tiên chu kỳ kinh nguyệt - những phụ nữ bắt đầu có kinh nguyệt sớm có nhiều khả năng trở nên béo phì, và có các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch , các nhà nghiên cứu báo cáo trong tạp chí Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism.
    Những người có một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch, thường có một hoặc hai người khác quá. Ví dụ, người rất béo phì thường có huyết áp cao, cholesterol cao trong máu, và bệnh tiểu đường loại 2.
    Các chuyên gia đồng ý rằng các yếu tố nguy cơ thường gặp nhất đối với bệnh tim mạch là xơ vữa động mạch và / hoặc tăng huyết áp.
    -----------------------------------------------------

    Bệnh tim mạch là gì ?


    Trái tim con người to cỡ 1 nắm tay và nặng khoảng 300g. Tim bơm Oxy và máu đến các cơ quan trong cơ thể của chún ta qua các mạch máu. Bệnh tim mạch là từ chung miêu tả các bệnh ảnh hưởng đến tim và các mạch máu.
    Bệnh tim mạch ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của tim và các mạch máu, là thủ phạm gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ. Gián đoạn hoặc không cung cấp đủ Oxy đến các cơ quan trong cơ thể làm các cơ quan nội tạng bị phá huỷ hoặc thậm chí gây ra chết người. Nếu bị bệnh tim mạch, tim và não có nguy cơ bị ảnh hưởng cao. 1 số bệnh tiêu biểu:
    ++ Huyết áp cao: Huyết áp cao xuất hiện khi máu được đẩy đi trong mạch máu với áp suất cao. Khi huyết áp lên cao, thành mạch trở nên yếu và có thể gây ra các biến chứng như đột quỵ hay cơn đau tim.
    ++ Đột quỵ: Đột quỵ khi một động mạch, cơ quan mang máu và ô-xy đến một phần nào đấy của tim bị chặn lại. Không có ô-xy, phần cơ này của tim không hoạt động và sẽ có cảm giác đau ở ngực.


    Bệnh tim mạch là gì ?

    ++ Suy tim: Tim khoẻ mạnh sẽ bơm máu đến khắp cơ thể. Một quả tim yếu sẽ không đủ khả năng làm việc bơm máu này một cách hiệu quả. Khi tim không bơm đủ máu, sẽ bị suy tim.
    ++ Bệnh động mạch vành: Ảnh hưởng đến các mạch máu cung cấp máu cho cơ tim. Nếu động mạch bị nghẽn và dòng máu đưa vào tìm bị hạn chế, có thể gây ra cơn đau tim đột qụy, bệnh động mạch vành cũng có thể gây ra cơn đau ngực (chứng đau thắt ngực).
    ++ Xơ vữa động mạch: Khi các mạch máu bị tắc bởi sự tích tụ cholesterol, chất béo và can-xi (còn được biết đến như là những mảng bám), đây chính là điều kiện dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch. Những mảng bám tạo thành trên thành của mạch máu, mạch máu trở nên kém mềm dẻo, và sự lưu thông trong mạch máu cũng kém hơn, làm dòng máu khó chảy qua. Đột quỵ hay cơn đau tim có thể xuất hiện nếu sự tích tụ mảng bám trở nên dày và mạch máu bị tắc nghẽn nên dòng máu không thể chảy qua được.

    Lần sửa cuối bởi backieuphong; 30-03-2013 lúc 03:26 AM
    独步傲游忘世俗
    Độc bộ ngao du vong thế tục
    看遍人间百事奸
    Khán biến nhân gian bách sự gian

  3. #3
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jan 2012
    Bài gửi
    308
    Thanks
    54
    Thanked 48 Times in 40 Posts

    Cool

    2. Huyết Áp & Các bệnh về huyết áp

    a. Huyết áp là gì ?

    Huyết áp là áp lực máu ở trong lòng động mạch. Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của động mạch.


    Huyết áp là...

    Khi co bóp, máu sẽ được bơm ra ngoài và ép vào thành động mạch làm mạch máu căng lên. Số đo huyết áp ở thời điểm này gọi là Huyết áp tâm thu hay Huyết áp tối đa. Sau khi co bóp tim sẽ giãn ra và thành động mạch sẽ trở về trạng thái ban đầu. Số đo huyết áp tại thời điểm này gọi là Huyết áp tâm trương hay Huyết áp tối thiểu.
    Theo tổ chức y Tế thế giới, huyết áp bình thường đo ở cánh tay là = 120/80 mmHg. Đây là huyết áp trung bình bình thường đối với người lớn.Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm sinh lý và nhiều yếu tố khác.

    Hoặc:

    - Huyết áp là số đo về lực tác động của máu lên thành động mạch. Huyết áp phụ thuộc vào lực bơm máu của tim, thể tích máu được bơm, kích thước cũng như độ đàn hồi của thành động mạch.
    Huyết áp liên tục thay đổi tùy theo hoạt động, nhiệt độ, chế độ ăn, cảm xúc, tư thế, và sử dụng thuốc.
    - Huyết áp là sức đẩy của dòng máu tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể, mỗi khi tim đập là lúc huyết áp cao nhất và gọi là huyết áp tâm thu. Khi tim nghỉ, khoảng thời gian giữa 2 lần tim đập thì huyết áp giảm đi, đó là huyết áp tâm trương.
    Chỉ số huyết áp phải căn cứ vào độ tuổi và tình trạng sức khỏe của từng người. Ở người khỏe mạnh, từ độ tuổi trưởng thành cho đến 30-45 tuổi: huyết áp tâm thu là 90-110mmHg, huyết áp tâm trương là 70-90mmHg được cho là bình thường. Từ 40 tuổi trở lên thì cứ mỗi 10 tuổi, mỗi chỉ số cộng thêm 10.


    b. Huyết áp cao hay Cao huyết áp là gì?


    Cao huyết áp còn gọi là tăng huyết áp và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông (tension). Đây là bệnh lý thuờng gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi, chiếm 8-12% dân số. Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp như tiểu đường, thuốc lá, tăng lipid máu, di truyền.


    Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nửa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy suy tim, thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống (không cảm thấy khoẻ khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong. Do đó điều trị huyết áp cao là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.

    Ngày nay với sự tiến bộ về kỷ thuật chẩn đoán (máy đo huyết áp phổ biến rộng rãi) và càng có nhiều loại thuốc điều trị ít tác hại, việc điều trị đã mang đến cho bệnh nhân sự cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm đáng kể tử vong và các di chứng(liệt nữa người, suy tim) do cao huyết áp gây nên.

    Người bệnh cao huyết áp cũng cần quan niệm rằng cần phải chấp nhận việc điều trị tốn kém lâu dài để đổi lấy một cuộc sống an toàn. Cao huyết áp thường không triệu chứng do đó nhiều người chỉ nhận ra bản thân họ bị cao huyết áp khi họ bị tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quî). Không thể căn cứ vào triệu chứng nhức đầu, chóng mặt để uống thuốc hạ áp bởi vì nhức đầu, chóng mặt không phải thường xuyên xuất hiện khi huyết áp tăng cao đột ngột và các triệu chứng này có thể gặp ở bệnh lý khác( ví dụ nhức đầu do căng thẳng,viêm xoang, và chóng mặt có thể do tụt huyết áp...).

    Tốt nhất nên thường xuyên kiểm tra huyết áp định kỳ với những người chưa cao huyết áp và khi nghi ngờ cao huyết áp cần đo huyết áp nhiều lần .Nếu huyết áp vẫn cao thì nên bắt đầu biện pháp điều chỉnh cách sống(tập thể dục, cai thuốc lá, điều chỉnh chế độ ăn) và xem xét điều trị thuốc.

    Huyết áp không phải là con số hằng định

    Trị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi có yếu tố tác động như tâm lý (lo âu, sợ hãi, mừng vui...), vận động (đi lại, chạy nhảy) hoặc môi trường (nóng lạnh), chất kích thích (thuốc lá, càphê, rượu bia) và bệnh lý (nóng sốt, đau đớn).


    Trong những trường hợp trên, huyết áp thường tăng cao hơn bình thường.Ví dụ huyết áp của bạn lúc nghỉ thường 130/80mmHg khi bạn lên cầu thang lầu 3, nếu bạn đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp của bạn có thể 150/80-180/90mmHg. Trong những trường hợp này không thể cho rằng bạn bị cao huyết áp. Do đó tốt nhất bạn phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp nếu bạn muốn có trị số huyết áp trung thực và phải đo nhiều lần sau đó tính trung bình sau 3 lần đo. Bạn cũng đừng thắc mắc nhiều nếu huyết áp trước đó khác với trị số bây giờ.

    Nhịp sinh học huyết áp của bạn thường dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc bạn thức giấc và gia tăng tùy theo bạn vận động hoặc căng thẳng hay không. Vào chiều tối khi bạn nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống nhẹ và sẽ xuống thấp nhất khi bạn ngủ say vào ban đêm cho đến gần sáng.

    Các nghiên cứu ghi nhận rằng ở người cao huyết áp mà huyết áp không hạ vào ban đêm hoặc hạ quá mức hoặc tăng vọt vào buổi sáng đều là yếu tố bất lợi vì dễ bị đột quî do cao huyết áp.

    Khi nào gọi là cao huyết áp?

    Người ta thường dùng khái niệm huyết áp tâm thu (hoặc huyết áp tối đa) cho trị số huyết áp trên và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) cho trị số huyết áp dưới.Ví dụ khi bác sĩ của bạn ghi huyết áp của bạn : 180/95mmHg tức là huyết áp tâm thu (hoặc tối đa của bạn là 180mmHg và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) là 95mmHg. Khi trị số huyết áp tâm thu > 140mmHg và huyết áp tâm trương >90 mmHg được xem là cao huyết áp.Đối với người già, dạng cao huyết áp phổ biến là cao huyết áp tâm thu đơn thuần tức là chỉ số huyết áp tâm thu >160mmHg nhưng huyết áp tâm trương không cao(<90mmHg). Ở trẻ em trị số huyết áp có thấp hơn quy ước của người lớn.

    Cách đo huyết áp

    Để có trị số huyết áp đúng, việc đo huyết áp là bước chẩn đoán quan trọng nhất vì tránh được việc điều trị quá mức hoặc không đầy đủ.Cần đo nhiều lần và nhiều vị trí khác nhau (2 tay, 2 chân) để so sánh đôi khi phát hiện bệnh lý mạch máu ví dụ như trong teo hẹp eo động mạch chủ huyết áp chi trên cao hơn chi dưới.




    Đo huyết áp cần thực hiện trong phòng yên tỉnh, trạng thái tinh thần thoải mái.Tư thế đo huyết áp thông thường là tư thế nằm và ngồi để làm sao băng quấn cánh tay ngang mức với tim.Băng quấn cánh tay(cuff) phải phù hợp kích thứơc cánh tay. Trẻ em cần có băng quấn cánh tay kích thước nhỏ hơn.

    Nên sử dụng máy đo huyết áp nào?

    Máy đo huyết áp thủy ngân được xem là tiêu chuẩn. Ngày nay người ta giảm dần việc sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân vì độc tính với môi trường. Các loại máy dạng đồng hồ thường phổ biến sử dụng trong giới thầy thuốc, trong khi đó các máy đo huyết áp điện tử thường sử dụng rộng rãi trong dân chúng vì dễ đo. Theo Uỷ Ban phối hợp quốc gia về cao huyết áp Hoa Kỳ (JNC) và Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), đối với máy đo huyết áp điện tử, chỉ nên sử dụng loại băng quấn cánh tay, không nên sử dụng cổ tay và ngón tay vì không chính xác.

    Bạn có thể chọn máy đo huyết áp đồng hồ hoặc có thể máy đo điện tử để tự đo huyết áp ở nhà. Máy đo huyết áp đồng hồ thường kèm theo ống nghe thường giá rẽ hơn máy đo huyết áp điện tử nhưng đòi hỏi bạn phải được nhân viên y tế huấn luyện cách đo.

    Đối với máy đo huyết áp điện tử ưu điểm là dễ sử dụng, nhưng nhược điểm là các máy tại thị trường Việt nam chỉ có số ít Hãng như Omron là được kiểm định theo tiêu chuẩn Anh Mỹ.

    Khi chọn máy đo huyết áp điện tử các bạn nên chọn các loại máy đo huyết áp đã được các tổ chức uy tín kiểm định chất lượng. Hiện nay 2 tổ chức có uy tín trong kiểm tra chất lượng máy đo huyết áp là Hiệp hội cao huyết áp Anh quốc (British Hypertension Society) và Hiệp hội Phát triển Dụng cụ y tế Hoa kỳ (Association for of Medical Instrumentation).

    (Theo Medic.com.vn)
    ----------------------------------------------------------
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Tăng huyết áp (hay còn gọi là lên tăng xông) là một bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăng cao. Ngược với tình trạng hạ huyết áp. Tăng huyết áp được phân loại thành nguyên phát hay thứ phát. Có khoảng 90–95% số ca được phân loại "tăng huyết áp nguyên phát", dùng để chỉ các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây tăng huyết áp (vô căn). Chỉ có khoảng 5–10% số ca là tăng huyết áp thứ phát gây ra bởi các bệnh tại các cơ quan khác như thận, động mạch, tim, và hệ nội tiết.

    Tăng huyết áp kháng trị là một trong những yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim và phình động mạch, ngoài ra nó còn là nguyên nhân gây ra suy thận mạn. Tăng áp lực máu động mạch sẽ dẫn tới giảm tuổi thọ trung bình. Ăn kiêng và thay đổi lối sống có thể cải thiện tình trạng huyết áp và giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng, mặc dù vậy việc chữa trị bằng thuốc vẫn cần thiết đối với các bệnh nhân mà các biện pháp thay đổi lối sống không mang lại kết quả hay kết quả không được như mong muốn.
    Lần sửa cuối bởi backieuphong; 30-03-2013 lúc 08:44 PM
    独步傲游忘世俗
    Độc bộ ngao du vong thế tục
    看遍人间百事奸
    Khán biến nhân gian bách sự gian

  4. #4
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jan 2012
    Bài gửi
    308
    Thanks
    54
    Thanked 48 Times in 40 Posts
    c. Bệnh Huyết áp thấp

    Huyết áp thấp ( Hypotension - arterielle) là huyết áp luôn luôn ở con số thấp hơn đa số người bình thường ở cùng lứa tuổi.
    Huyết áp phụ thuộc vào hai yếu tố tác động chủ yếu lưu lượng máu và sức cản ngoại vi lưu lượng máu là phụ thuộc vào sức co bóp cơ tim, chủ yếu là chức năng bóp của tâm thất trái, sức cản ngoại vi phụ thuộc chủ yếu vào độ đàn hồi của thành mạch máu.
    Có hai loại huyết áp thấp: huyết áp tiên phát và huyết áo thấp thứ phát.

    Huyết áp thấp tiên phát (huyết áp thấp tiên phát hoặc huyết áp thấp di thể trạng):
    Đây là những yếu tố có thể trạng đặc biệt từ nhỏ đến lớn huyết áp vẫn thấp mà không hề có triệu chứng hoặc biến chứng ở bộ phận nào trong cơ thể khi gắng sức thì thấy chóng mệt. Đây không coi là bệnh lý và không cần điều trị.

    - Huyết áp thấp thứ phát: là huyết áp bình thường nhưng sau đó huyết áp bị tụt dần xuống tới mức được coi là huyết áp thấp. Thường gặp ở những người suy nhược kéo dài mắc các bệnh thiểu năng tuần hoàn não, lao, nhiễm khuẩn, nhiễm độc kéo dài, thiếu máu kéo dài, bệnh nội tiết suy tuyến thượng then, suy tuyến giáp mạn tính.

    - Những người huyết áp thấp: mệt mỏi, toàn trạng yếu, giảm tập trung trí lực, hoa mắt, ruồi bay, nhất là khi thay đổi tư thể có thể thoáng ngất hoặc ngất. Nhịp tim nhanh có thể có ngoại tâm thu mạch yếu có khi nhịp tim chậm., cung lượng tinh giảm rõ rệt.
    Chứng huyết áp thấp dựa vào đo nhiều lần nhiều tư thế khác nhau thấy huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) < 100mmHg là huyết áp thấp.

    Giải thích khác

    Huyết áp thấp, nguyên nhân và cách điều trị

    Huyết áp thấp là tình trạng huyết áp tâm thu dưới 90mmHg và huyết áp tâm trương dưới 60mmHg hoặc giảm hơn 20mmHg so với trị số huyết áp bình thường trước đó.

    Nguy hiểm không kém
    Nếu so sánh với bệnh huyết áp cao, huyết áp thấp trước mắt không dẫn đến biến chứng như tai biến mạch máu não, nghẹn tắc cơ tim… nên nhiều người rất chủ quan với căn bệnh này. Tuy nhiên, ít người biết được rằng huyết áp thấp cũng có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm không kém.
    Khi bệnh nhân bị tụt huyết áp nhiều lần, hệ thống thần kinh bị suy giảm chức năng, cơ thể không tự kịp điều chỉnh để cung cấp đủ dinh dưỡng và oxy cho các cơ quan có chức năng sống còn như não, tim, thận gây tổn thương các cơ quan này.
    Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh huyết áp thấp có thể dẫn đến tình trạng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy thận… thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Nhiều trường hợp huyết áp thấp có thể dẫn tới tai biến mạch máu não, trong đó phần lớn là nhồi máu não, tỷ lệ này chiếm khoảng 30%.
    Ngoài ra, người bị tụt huyết áp cấp có thể gây sốc, đặc biệt nguy hiểm đến tính mạng trong những trường hợp như đang lái xe, làm việc trên tầng cao… Nếu huyết áp thấp kéo dài, còn làm cho các cơ quan thận, gan, tim, phổi suy yếu nhanh chóng.

    Triệu chứng và nguyên nhân
    Huyết áp thấp dễ xảy ra với những người quá lao lực, thể trạng yếu, suy dinh dưỡng, phụ nữ… Đặc biệt, huyết áp thấp dễ xảy ra ở người bệnh về tim mạch, béo phì, tiểu đường… với những triệu chứng: mệt mỏi, lả và rất muốn được nghỉ ngơi, hoa mắt chóng mặt. Khó tập trung và dễ nổi cáu, có cảm giác buồn nôn.
    Suy giảm khả năng tình dục. Da nhăn và khô, kèm theo rụng tóc. Vã mồ hôi nhưng vẫn cảm thấy lạnh. Thở dốc, nói như hụt hơi nhất là sau khi leo lên cầu thang hay làm việc nặng, khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, xây xẩm mặt mày…
    Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh huyết áp thấp. Có thể do sự suy giảm chức năng của các cơ quan như tâm, thận, tỳ dương, hoặc do hệ thống thần kinh tự động của cơ thể không tự điều chỉnh được dẫn đến tụt huyết áp tư thế.
    Cũng có thể do yếu tố di truyền, những người có thể trạng yếu, hoặc người mắc một số bệnh huyết học kèm theo như viêm loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mạn tính, lao…
    Các nghiên cứu đã cho thấy, đối tượng mắc bệnh huyết áp thấp thường thuộc các dạng sau:
    - Cơ thể bị suy nhược do làm việc quá sức, stress, mất ngủ, với người phải áp dụng giảm cân vì mắc các bệnh tim mạch, béo phì, tiểu đường.
    - Do suy giảm hoạt động của tuyến giáp. Khi cơ thể bị thiếu hụt hàm lượng hormon của tuyến giáp, sẽ có nguy cơ mắc chứng huyết áp thấp, kèm theo các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, rụng tóc.
    - Do suy giảm glucoza. Nếu hàm lượng đường trong máu giảm xuống dưới mức 2.5mmol/l, bạn có thể sẽ phải chịu đựng cảm giác mệt mỏi, run rẩy và vã mồ hôi.
    - Hàm lượng hemoglobin thấp. Một người khoẻ mạnh hàm lượng hemoglobin trong máu ở mức 100 milliters. Ở nam giới hàm lượng này ở mức 13,5 tới 17,5 g/dl còn ở nữ giới là 11,5 tới 15,5g/dl. Khi hàm lượng hemoglobin thấp tức là dưới mức 9g/dl sẽ khiến cho lượng oxy vận chuyển tới não và tim bị suy giảm, có thể làm cho cơ thể choáng váng hoa mắt, chóng mặt.
    - Nhịp tim chậm. Nếu nhịp tim đập dưới 60 nhịp trong một phút, sẽ không đủ lượng máu và oxy lưu thông trong cơ thể dẫn tới bệnh huyết áp thấp.
    Theo các bác sĩ tim mạch, chứng huyết áp thấp không chỉ tập trung vào những người quá lao lực, suy dinh dưỡng, phụ nữ… Giờ đây nguyên nhân gây chứng bệnh này còn có sự tham gia của các yếu tố như cuộc sống căng thẳng, môi trường ô nhiễm, khuynh hướng lạm dụng độc chất… Chính vì thế, huyết áp thấp đã trở thành một trong những căn bệnh thời đại mà ai cũng có thể bị mắc.
    Kiểm soát huyết áp thấp
    Theo các bác sĩ, tốt nhất người bị huyết áp thấp nên tuân thủ theo chế độ sinh hoạt và ăn uống như sau:
    - Nên dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi và ăn uống điều độ, không nên bỏ bữa, vì nhịn đói sẽ gây tụt huyết áp do hạ đường huyết.
    - Ăn mặn hơn người bình thường (10-15g muối/ngày).
    - Tập thể dục nhẹ nhàng và đều đặn như đi bộ, thể dục dưỡng sinh, Yoga…
    - Ngủ đủ giấc, tránh làm việc căng thẳng và lưu ý nên dùng ngay một tách càphê, trà đường nóng, dùng gừng, nhân sâm, hay các thuốc bổ tổng hợp Vitamin khi bị tụt huyết áp…
    - Đi lại từ tốn, uống nhiều nước, giảm uống rượu, ăn đủ chất gồm hạt toàn phần, rau quả, thịt nạc, ăn nhiều bữa trong ngày, hạn chế bột và đường.
    Các bác sĩ tim mạch khuyến cáo, huyết áp cao và huyết áp thấp đều nguy hiểm đến tính mạng nếu như không được phòng tránh và chữa trị kịp thời. Chính vì thế mà cần phải chú trọng khám sức khỏe định kỳ để kịp thời phát hiện bệnh huyết áp thấp, đặc biệt cho thai phụ, học sinh, người lao động… nhằm phòng tránh hậu quả đáng tiếc.
    Để tránh xa các bệnh liên quan đến tim mạch, chúng ta hãy giành một khoảng thời gian nhất định để nghỉ ngơi, đặc biệt phải ngủ đủ thời gian để tránh bị chứng mất ngủ kinh niên và không bị mắc các bệnh liên quan đến tim mạch./.
    Cách phát hiện sớm tăng huyết áp

    Huyết áp là áp lực máu lưu thông tác động lên thành mạch. Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) là khi tim bóp tống máu (b/t:120mmHg), huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) khi tim giãn (b/t: 80mmHg).

    Hiểu một cách đầy đủ: Tăng Huyết Áp là một hội chứng tim mạch tiến triển được khẳng định khi huyết áp đo tại cơ sở y tế lớn hơn hoặc bằng 140/90mmHg, hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ lớn hơn hoặc bằng 135/85mmHg, hoặc chỉ số huyết áp không tăng nhưng có bằng chứng tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim do tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.


    Mảng xơ vữa làm động mạch hẹp là nguyên nhân gây bệnh tăng huyết áp.

    THA được chia làm hai loại là THA nguyên phát và THA thứ phát, trong đó THA nguyên phát (tăng không rõ nguyên nhân) chiếm 93-95%. Còn THA thứ phát là từ một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn do hở van động mạch chủ; u tủy thượng thận; do bệnh thận; cường giáp; do sử dụng thuốc làm giữ muối, nước... Trường hợp THA không rõ nguyên nhân người ta nghĩ đến nhiều yếu tố phối hợp với nhau gây THA như: tuổi tác cao; giới tính (nữ ở độ tuổi sinh đẻ ít mắc bệnh tim mạch hơn nam giới); di truyền (cha mẹ mắc bệnh THA, sẽ có một tỷ lệ con cũng bị THA); béo phì; tiểu đường; hút thuốc lá; ít vận động; stress; thói quen ăn mặn...

    Điểm khác biệt là THA có nguyên nhân thì chữa triệt để được, ví dụ THA do hẹp động mạch thận thì sau khi nong động mạch hẹp, huyết áp bình thường trở lại, không phải uống thuốc lâu dài.

    "Đo kiểm tra là cách đơn giản nhất, duy nhất để phát hiện sớm THA nhằm điều trị kịp thời. Để đo huyết áp, người được đo cần được nghỉ khoảng 5 phút trước khi đo; không sử dụng các chất kích thích trước đó 2 giờ (bia, rượu, thuốc lá, cà phê…); không dùng thuốc cường giao cảm (như một số thuốc nhỏ mũi)... Với người lớn, dù trong người thấy bình thường nhưng cũng cần đo huyết áp kiểm tra định kỳ hằng năm.

    Thay đổi hành vi, lối sống không có lợi cho sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu, bia quá độ...; chế độ dinh dưỡng cần giảm muối, bớt mỡ, tăng cường rau, quả, trái cây tươi; vận động thể lực đều đặn... là biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh THA.

    Cách phòng chống bệnh tăng huyết áp:

    Thực hiện lối sống lành mạnh phòng chống tăng huyết áp

    Hằng ngày tập thể dục, đi bộ 30-45 phút.

    Ăn nhạt.

    Tăng cường ăn rau xanh và hoa quả tươi.

    Hạn chế ăn mỡ động vật và thức ăn chứa nhiều cholesterol.

    Hạn chế uống rượu bia.

    Không hút thuốc lá, thuốc lào.

    Làm việc và nghỉ ngơi hợp lý.

    Theo dự án Phòng chống bệnh tăng huyết áp Quốc gia - Báo suckhoe&doisong
    Lần sửa cuối bởi backieuphong; 05-04-2013 lúc 10:20 AM

  5. #5
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jan 2012
    Bài gửi
    308
    Thanks
    54
    Thanked 48 Times in 40 Posts
    3. Nhồi máu cơ tim


    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


    Nhồi máu cơ tim:

    Nhồi máu cơ tim là tình trạng của một phần cơ tim bị hủy khi lượng máu cung cấp đến phần đó bị giảm sút. Tùy theo bao nhiêu cơ tim bị hủy, bệnh có thể nhẹ hoặc nặng. Nếu cơ chưa bị hủy hẳn thì gọi là "đau tim" (angina).

    Lịch sử
    Trước khi có máy ghi điện tim, không thể nào chẩn đoán chính xác được chứng nhồi máu cơ tim. Năm 1772, bác sỹ William Heberden có viết về chứng "đau ngực" nhưng chảng mấy ai hiểu về căn bản nguyên nhân cùa loại bệnh tim mạch này
    Năm 1912 James Herrick miêu tả căn bệnh về tim và là người đầu tiên đưa ra giả thuyết về huyết khối làm nghẽn mạch vành tim. Sau đó mới có khám phá về nguyên nhân chính (màng xơ vữa bị nứt gây tụ máu).
    Năm 1956 các cuộc khảo cứu (của nhóm y sĩ Anh) khám phá về các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch – nhất là tác hại của thuốc lá.



    Nguyên nhân

    Nguyên nhân chính gây ra nhồi máu cơ tim là do máu đông hình thành làm tắc động mạch vành, khi mảng xơ vữa bị nứt, vỡ ra (thường xảy ra trên nền của bệnh cảnh động mạch vành bị hẹp do mỡ tụ trong thành mạch máu và xơ vữa từ trước). Ngoài ra, tình trạng co thắt mạch vành cũng có thể làm ngừng trệ dòng máu dẫn đến nuôi cơ tim.

    Dịch tễ học
    Trên thế giới mỗi năm có 2,5 triệu người chết do bệnh nhồi máu cơ tim, trong đó 25% chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh. Trong vòng năm sau đó chết thêm 5% – 10% nữa. Hungari là nước được xếp thứ 10 trên thế giới về bệnh nhồi máu cơ tim. Tuy chỉ có 10 triệu dân mà mỗi năm có 25.000 người Hungari bị nhồi máu cơ tim mới (không kể những trường hợp nhồi máu cơ tim cũ). Cũng ở nước này, tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch chiếm 47% tổng số tử vong chung, trong đó 60% tử vong do bệnh động mạch vành mà hàng đầu là nhồi máu cơ tim.
    Hai nhóm nghiên cứu Baltimore và Framingham của Mỹ đã mổ tử thi trên một nghìn trường hợp đột tử, 20% – 51% nam giới ở độ tuổi 35–54 đột tử do nhồi máu cơ tim, 6% – 10% phụ nữ ở độ tuổi này đột tử vì nhồi máu cơ tim.
    Béo phì,
    Rối loạn lipid máu,
    hút thuốc lá
    Tăng huyết áp,
    Đái tháo đường,
    Gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm trước tuổi 60.
    Có vài trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra ở người trẻ hoặc người không hề có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào.

    Triệu chứng
    Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là:
    Đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5–15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ.
    Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.
    Các triệu chứng phụ như: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh.
    Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng – thấy nhiều trong các bệnh nhân đái tháo đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, ngừng tim hay chết bất ngờ …

    Chẩn đoán

    Vì nhồi máu cơ tim nguy hiểm đến tính mạng và diễn biến nhanh chóng, phương châm chẩn bệnh là tuyệt đối tránh bỏ sót. Bất cứ bệnh nhân nào tuổi trên 45, bị đau ngực (nhất là bên trái) hay khó thở và nhất là có các yếu tố nguy cơ trên, cần phải chứng minh không bị nhồi máu cơ tim trước khi nghĩ đến căn bệnh gì khác. Thường nên đưa vào bệnh viện để theo dõi.


    Điện tâm đồ

    ---------------------------------------------

    Nhồi máu cơ tim: Dấu hiệu nhận biết

    Nhồi máu cơ tim là gì ?
    Quả tim được tưới máu bởi các động mạch vành. Người có bệnh xơ vữa động mạch thường có mảng xơ vữa trong các động mạch vành. Nếu một mảng xơ vữa trong động mạch vành bị vỡ ra, tại chỗ vỡ mảng sẽ xuất hiện một cục máu đông gây tắc động mạch vành. Nếu cục máu đông gây tắc hoàn toàn động mạch vành, máu sẽ không đến được vùng cơ tim tương ứng và vùng cơ tim này sẽ chết. Biến chứng này của bệnh xơ vữa động mạch được gọi là nhồi máu cơ tim.

    Nhồi máu cơ tim có biểu hiện như thế nào ?
    Biểu hiện thông thường nhất của nhồi máu cơ tim là đau ngực. Đau thường là kiểu nặng ngực, có tính chất giống như ai đó bóp chặt quả tim, vị trí thường là sau xương ức (hoặc đôi khi ở trên rốn), có thể lan lên cằm trái và cánh tay trái, xuất hiện khi nghỉ ngơi hoặc gắng sức tối thiểu và kéo dài hơn 30 phút. Khi người bệnh ngậm một số loại thuốc như nitroglycerine hoặc isosorbide dinitrate cơn đau có thể giảm. Đau thường kèm theo cảm giác lo lắng, người bệnh thường vã mồ hôi, mặt tái. Đôi khi nhồi máu cơ tim có biểu hiện không phải là đau ngực mà là cảm giác ngộp thở.

    Nhồi máu cơ tim nguy hiểm hay không ?
    Nhồi máu cơ tim rất nguy hiểm. Khoảng 1/4 – 1/3 bệnh nhân nhồi máu cơ tim chết trước khi kịp đến bệnh viện, thường là do các rối loạn nhịp tim nặng. Trong số những người đến được bệnh viện có 5 – 10% chết trong bệnh viện do các biến chứng như suy tim, choáng tim, rối loạn nhịp tim.
    Trong nhồi máu cơ tim một phần cơ tim bị chết, do đó chức năng bơm máu của quả tim ít nhiều bị suy giảm. Nếu không điều trị thật tích cực sau khi xuất viện, người bệnh sẽ bị suy tim tiến triển và có thể chết vì suy tim. Mặt khác, người đã bị nhồi máu cơ tim thường có nhiều mảng xơ vữa động mạch ở những động mạch khác (ngoài động mạch vành đã bị tắc gây ra nhồi máu cơ tim), vì vậy nếu không điều trị tích cực người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim tái phát hoặc bị các biến cố huyết khối xơ vữa khác như đột quỵ.

    Phải làm gì khi nghi ngờ bản thân mình hoặc người thân trong gia đình bị nhồi máu cơ tim ?
    Khi nghi ngờ bản thân mình hoặc người thân trong gia đình bị nhồi máu cơ tim thì phải đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Ở bệnh viện các bác sĩ sẽ khám và làm một số nghiệm pháp cận lâm sàng như ghi điện tâm đồ, xét nghiệm máu, siêu âm tim để xác định có nhồi máu cơ tim hay không. Nếu xác định bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp, các bác sĩ sẽ dùng một trong 2 biện pháp sau đây để tái lưu thông động mạch vành bị tắc: Biện pháp thứ nhất là tiêm thuốc để làm tan cục máu đông trong động mạch vành; biện pháp thứ 2 là thông tim để nong động mạch vành bị tắc. Thông tim để nong động mạch vành có hiệu quả cao hơn tiêm thuốc, tuy nhiên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chỉ có một số bệnh viện có khả năng thực hiện thủ thuật này. Các bệnh viện này gồm: Viện Tim, bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Thống Nhất.

    Điều trị người đã từng bị nhồi máu cơ tim

    Người sống sót qua giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim cần được điều trị thật tích cực để ngăn ngừa suy tim tiến triển, rối loạn nhịp tim nặng và nhồi máu cơ tim tái phát. Người bệnh phải có lối sống lành mạnh (như bỏ thuốc lá, giảm bia rượu, ăn lạt và kiêng ăn chất béo) và phải dùng dài hạn một số loại thuốc như thuốc chẹn bêta, thuốc ức chế men chuyển, thuốc nhóm statin và thuốc kháng tiểu cầu (gồm aspirin và clopidogrel). Người bệnh phải đi tái khám định kỳ theo đúng hẹn và không được tự ý bỏ thuốc ngay cả khi có cảm giác khỏe mạnh bình thường.

    Phòng ngừa nhồi máu cơ tim
    Phòng ngừa nhồi máu cơ tim cũng chính là phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Để phòng ngừa nhồi máu cơ tim phải kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, béo phì, ít vận động thể lực.
    Cụ thể phải :
    - Bỏ thuốc lá (nếu đang hút)
    - Điều trị bệnh tăng huyết áp (nếu có) để đưa huyết áp tâm thu xuống dưới 140 mm Hg và huyết áp tâm trương xuống dưới 90 mm Hg
    - Điều trị bệnh đái tháo đường (nếu có) để đưa mức đường huyết lúc đói xuống dưới 126 mg/dl
    - Điều trị bệnh tăng cholesterol máu để đưa cholesterol LDL (cholesterol có hại) xuống dưới 100 mg/dl
    - Kiêng ăn và vận động thể lực thường xuyên để giảm cân nếu bị béo phì hoặc thừa cân.

    Tác giả: Ths BS Hồ Huỳnh Quang Trí – Trưởng khoa Hồi sức - Viện Tim TP HCM

    Lần sửa cuối bởi backieuphong; 31-03-2013 lúc 04:35 AM
    独步傲游忘世俗
    Độc bộ ngao du vong thế tục
    看遍人间百事奸
    Khán biến nhân gian bách sự gian

  6. #6
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.066
    Thanks
    152
    Thanked 325 Times in 271 Posts
    Đột quỵ - Nguyên nhân & Cách Điều trị

    Đột quỵ là sự ngưng trệ đột ngột dòng máu cung cấp cho não. Phần lớn là do đột ngột tắc động mạch nuôi não (đột quỵ nhồi máu). Các nguyên nhân khác của đột quỵ bởi chảy máu vào mô não khi mạch máu bị vỡ (đột quỵ xuất huyết não).


    Nguyên nhân dâqnx đến đột quỵ

    Bởi đột quỵ xảy ra rất nhanh và đòi hỏi điều trị ngay lập tức, nên đột quỵ còn được gọi là cơn tấn công não. Khi các triệu chứng của đột quỵ chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn (ít hơn 1 giờ) được gọi là cơn thoáng thiếu máu não (TIA) hoặc đột quỵ nhỏ (mini-stroke).
    Các hậu quả của đột quỵ phụ thuộc vào phần nào của não bị tổn thương và mức độ tổn thương như thế nào. Nó có thể gây nên yếu liệt, mất cảm giác, hoặc khó nói, giảm thị lực, hoặc mất thăng bằng. Một số người có thể có đau đầu, nhưng đa số hoàn toàn không đau.
    I. NGUYÊN NHÂN GÂY ĐỘT QUỴ:
    Những ai dễ bị đột quỵ?
    Bất cứ ai có mạch máu não dễ bị rò rỉ, dễ vỡ hoặc dễ bị tắc thì đều dễ bị đột quỵ.
    Thường gặp:
    • Tiền sử gia đình bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim hoặc bị cơn thiếu máu não thoáng qua.
    • Tuổi từ 55 trở lên.
    • Bị tăng huyết áp: huyết áp tối đa từ 90 mm Hg trở lên và/hoặc huyết áp tối thiểu từ 90 mm Hg trở lên.
    • Cholesterol máu cao: cholesterol toàn phần từ 200 mg/dL trở lên hoặc từ 5,2 mmol/L trở lên.
    • Hút thuốc lá.
    • Đái tháo đường.
    • Béo phì, chỉ số khối cơ thể từ 25 kg/m2 (tính bằng cách lấy cân nặng đơn vị là kilogam chia cho chiều cao bình phương với đơn vị là mét) trở lên.
    • Bệnh tim mạch như suy tim, dị tật tim, viêm cơ tim, loạn nhịp tim.
    • Trước đây bị đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.
    • Dùng thuốc ngừa thai hoặc điều trị bằng nội tiết tố.


    Đột quỵ do máu đông làm tắc động mạch

    II. TRIỆU CHỨNG BỆNH ĐỘT QUỴ:
    Triệu chứng xuất hiện đột ngột và diễn tiến phụthuộc vịtrí và mức độ phần não bị hư hại.
    Các triệu chứng thường gặp là:
    • Yếu một tay hoặc một chân hoặc cả tay và chân cùng bên làm người bệnh đi khó khăn: đi loạng choạng, mất thăng bằng hoặc không phối hợp các động tác được hoặc ngã khuỵu. Rối loạn cảm giác kiểu kiến bò hoặc tê cóng một bên cơ thể.
    • Yếu một bên cơ mặt, miệng méo.
    • Nói khó khăn: nói đớ, nói không nói trọn câu đơn giản hoặc hoàn toàn không nói được.
    • Nhìn khó khăn: mắt mờ hoặc mù một bên hoặc nhìn thấy hình đôi.
    • Nhức đầu dữ dội hoặc nhức đầu dị thường kèm theo cứng cổ, nôn.
    • Mất ý thức: người bệnh sững sờ, không biết gì, khó đánh thức hoặc hôn mê đột ngột, đôi khi chết ngay.
    Đột quỵ có dấu hiệu báo trước không?
    Hầu hết đột quỵ không có dấu hiệu báo trước trừ trường hợp cơn thiếu máu não thoáng qua. Cơn thiếu máu não thoáng qua xảy ra do gián đoạn tạm thời máu nuôi não, có triệu chứng và dấu hiệu giống như đột quỵ nhưng kéo dài vài phút đến 24 giờ và sau đó biến mất. Một người có thể bị nhiều cơn thiếu máu não thoáng qua và triệu chứng cũng như dấu hiệu mỗi lần có thể giống hoặc khác nhau. Người nào bị thiếu máu não thoáng qua sẽ dễ bị đột quỵ hơn người bình thường. Có 10% người bị cơn thiếu máu não thoáng qua bị đột quỵ trong vòng 3 tháng sau đó.
    Khi nào cần đi khám?
    Khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng thiếu máu não thoáng qua hay đột quỵ, phải đi khám ngay. Cơn thiếu máu não thoáng qua sẽ mất đi nhưng là cơ hội để người bệnh điều trị nhằm ngăn chặn đột quỵ.
    Nếu thấy ai đó dường như bị đột quỵ thì hãy quan sát họ cẩn thận trong khi chờ xe cấp cứu đến. Cần hành động khi người bị đột quỵ xảy ra:
    • Nếu người bệnh ngưng thở, hãy hô hấp nhân tạo miệng-miệng.
    • Nếu người bệnh nôn, hãy nghiêng đầu họ sang bên nhằm giúp họ không bị ngạt.
    • Không cho ăn hoặc uống bất cứ gì.
    III. ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ:
    Điều trị đột quị bao gồm: Điều trị cơ bản + Phòng và đều trị biến chứng + Phục hồi chức năng sớm.
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  7. #7
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.066
    Thanks
    152
    Thanked 325 Times in 271 Posts

    Đột quỵ - Cận kề cái chết

    (VTV News)- Đột quỵ là bệnh hết sức nguy hiểm, được xem là 1 trong 3 căn bệnh gây tử vong hàng đầu cùng với tim mạch và ung thư.

    Đột quỵ não là một bệnh xảy ra khi cung cấp máu một bộ phận não bị đột ngột ngừng. Đột quỵ não còn được gọi là tai biến mạch máu não.

    Đột quỵ não thường do 2 nguyên nhân chính gây ra:


    Mạch não bị tắc có thể do mạch máu bị xơ vữa gây hẹp dần và tắc tại chỗ. Có thể do cục máu đông hay mảng xơ vữa di chuyển từ nơi khác lên động mạch não và gây tắc.

    Mạch máu bị vỡ do tăng huyết áp đột ngột cao quá mức, vỡ phình động mạch não. Mạch máu não bị dị dạng phình ra và gây vỡ.

    Ngoài ra còn có nguyên nhân ít gặp là: Cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương tự trường hợp trên nhưng mạch máu tự thông nên hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ.

    Bên cạnh đó, các bệnh nhân mắc các chứng bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch, cholesterol máu tăng cao, một số bệnh về tim mạch… hút thuốc lá, nghiện rượu, rối loạn chức năng đông máu, béo phì, ít vận động, cũng có thể dẫn tới đột quỵ.


    Những lưu ý phòng tránh đột quỵ:

    Những dấu hiệu sau chứng tỏ bạn có thể bị đột quỵ:

    - Bất ngờ có cảm giác tê liệt hoặc yếu ớt ở mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một bên của cơ thể.

    - Đột ngột bị lẫn lộn, gặp vấn đề trong việc nói và hiểu.

    - Đột ngột có vấn đề về thị lực ở một hoặc cả hai mắt.

    - Đột ngột có vấn đề trong việc đi lại, bị hoa mắt, mất thăng bằng hay mất khả năng kiểm soát sự di chuyển của cơ thể.

    - Đau đầu dữ dội và đột ngột mà không rõ nguyên nhân.

    - Khi có những dấu hiệu này ngay lập tức phải gọi cấp cứu hoặc nhờ người thân đưa đến cơ sở cấp cứu gần nhất.


    Để phòng tránh đột quỵ cần:

    - Không hút thuốc và tránh hít phải khỏi thuốc thụ động.

    - Điều trị bệnh cao huyết áp nếu bị bệnh này.

    - Thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh ít chất béo bị bão hòa, ít chất béo chuyển dạng, ít cholesterol và muối.

    - Thường xuyên hoạt động thể dục thể thao.

    - Giữ cân nặng của quý vị trong tầm kiểm soát.

    - Tuân theo các yêu cầu của bác sĩ về việc dùng thuốc.

    - Kiểm soát đường huyết nếu bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường.

    - Kiểm tra sức khỏe theo định kỳ và duy trì một cách đều đặn.

    -------------------------------------------
    Thieugia sư tầm và giới thiệu
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  8. #8
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.066
    Thanks
    152
    Thanked 325 Times in 271 Posts
    Bệnh xơ vữa động mạch & cách phòng ngừa


    Sơ vữa động mạch là gì?

    Xơ vữa động mạch là hiện tượng thành của động mạch (phía trong lòng động mạch) bị xơ cứng làm cho lòng động mạch hẹp lại gây nên hiện tượng thiếu máu cục bộ cho cơ quan, có nơi lòng động mạch bị xơ vữa bong ra gây tắc mạch cục bộ. Xơ vữa động mạch có thể gặp mọi nơi trong cơ thể nhưng nguy hiểm nhất là động mạch nuôi tim (động mạch vành), động mạch não.


    Nguyên nhân gây bệnh:

    Nguyên nhân chính gây nên xơ vữa động mạch là cholesterol trong máu tăng cao (bình thường cholesterrol trong máu <>0,9mmol/l, khi HDL-C dưới chỉ số này là có hiện tượng bị giảm). Người ta nghiên cứu và tổng kết thấy rằng nguyên nhân của sự gia tăng cholesterol máu lệ thuộc rất nhiều vào chế độ ăn, ví dụ như ăn quá nhiều mỡ động vật, ăn quá nhiều thức ăn có chứa cholesterol như phủ tạng động vật, thịt có màu đỏ, tôm, trứng, dầu dừa, mỡ các loại động vật như mỡ lợn, mỡ trâu bò, mỡ cừu, mỡ gà... trứng, bơ, sữa toàn phần (là những thực phẩm có dầu mang nhiều axit béo bão hoà) hoặc có thể hay gặp ở người có chế độ ăn dư thừa năng lượng gây béo phì.
    Thống kê cũng cho thấy tăng cholesterol có thể có tính chất gia đình (di truyền) hoặc do mắc một số bệnh như suy giáp trạng, hội chứng thận hư, đái tháo đường, một số bệnh gây rối loạn protein máu (đau tuỷ xương...). Ở những người do thiếu vận động hoặc ít vận động như ngồi bàn giấy nhiều giờ, nhiều ngày, công việc lao động bắt buộc ngồi lâu như thợ may, người đánh máy... lại ăn chế độ nhiều đạm, nhiều mỡ khiến cho năng lượng tích tụ lại thành mỡ, tăng lượng cholesterol xấu và giảm lượng cholesterol tốt.

    Xơ vữa động mạch vành dễ gây nhồi máu cơ tim.


    Bệnh xơ vữa động mạch có tính chất từ từ và xảy ra trong một thời gian nếu không phát hiện kịp thời thì mới có các triệu chứng điển hình. Xơ vữa động mạch thì sớm muộn cũng làm cho thành động mạch bị xơ cứng, lòng động mạch bị hẹp lại làm cho máu cung cấp cho các cơ quan giảm đi, nhất là xơ vữa động mạch vành gây thiếu máu cục bộ, thiếu máu cơ tim gây đau thắt ngực và có thể gây cơn đau tim đột ngột và tử vong. Nếu động mạch ở não bị xơ cứng thì làm hẹp lòng động mạch não gây hiện tượng rối loạn tuần hoàn não và nặng hơn là đột quỵ do tắc mạch não hoặc nhũn não. Xơ vữa động mạch xảy ra ở bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, nếu xảy ra ở động mạch chân (cẳng chân) thì sẽ xuất hiện cơn đau cơ giống như cơn đau chuột rút. Bệnh xơ vữa động mạch cũng là một trong những nguyên nhân chính gây tăng huyết áp.

    Làm thế nào để biết có nguy cơ bị xơ vữa động mạch?


    Bệnh xơ vữa động mạch ở người cao tuổi (NCT) là một bệnh âm thầm nhưng rất nguy hiểm. Trong giai đoạn đầu của bệnh xơ vữa động mạch thì có rất ít triệu chứng, vì vậy NCT cần được khám bệnh định kỳ và làm xét nghiệm máu để biết có tăng cholesterol máu hay không. Khi làm xét nghiệm cần lưu ý xét nghiệm cholesterol toàn phần (cholesterol), cả cholesterol tốt và cholesterol xấu. Ngoài ra cũng nên kiểm tra đường máu lúc đói và đo huyết áp định kỳ. Khi đã được bác sĩ khám bệnh cho kết luận bị tăng huyết áp thì NCT càng cần kiểm tra huyết áp định kỳ và dùng thuốc đều đặn theo đơn chỉ dẫn của bác sĩ, không tự động đổi thuốc và không tự động ngừng thuốc làm giảm huyết áp khi chưa có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình. Đối với đường huyết khi có kết luận của bác sĩ khám bệnh, thông qua xét nghiệm máu lúc đói và làm nhiều lần là bị đái tháo đường thì cần lắng nghe và làm theo chỉ dẫn của bác sĩ khám bệnh, không nên quá lo lắng làm ảnh hưởng đến sức khoẻ nói chung và làm tăng bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch. Khi bị đái tháo đường thì NCT nên chuẩn bị cho mình một máy đo đường huyết tự động để vừa theo dõi đường huyết tốt vừa tránh mất thời gian đi khám bệnh.

    Cách ngăn chặn xơ vữa động mạch

    Chế độ ăn là hết sức quan trọng đối với việc phòng bệnh xơ vữa động mạch ở NCT. Cần hạn chế ăn mỡ động vật như mỡ lợn, mỡ bò, mỡ gà mà thay thế vào đó là dùng dầu thực vật như dầu lạc, dầu vừng. Không nên ăn loại dầu dừa vì dầu dừa có nhiều axít béo bão hoà dễ gây nên hiện tượng xơ vữa động mạch. Nên ăn các thức ăn có nguồn gốc từ đậu nành như đậu phụ. Mỗi tuần nên có từ 2 - 3 ngày ăn cá, trong mỡ của cá có nhiều chất béo omega-3 mà chất này rất tốt cho thành động mạch. Không nên ăn các loại lòng như lòng lợn, lòng trâu, bò và hạn chế ăn tôm, trứng. Các bữa ăn hàng ngày nên tăng cường lượng rau xanh, hoa quả (riêng người bị đái tháo đường hạn chế ăn loại quả ngọt như mít, na, xoài, hồng xiêm...).

    Cần vận động cơ thể như tập thể dục dưỡng sinh, đi bộ, chơi thể thao tuỳ theo sức mình. Người ta thấy nếu vận động đều, có bài bản và phù hợp với từng cá thể thì có thể làm tăng lượng cholesterol tốt, giảm cholesterol xấu và đồng thời làm giảm huyết áp đối với người đang bị tăng huyết áp mạn tính. Nếu đã áp dụng tất cả các biện pháp nhằm làm giảm cholesterol mà không đạt kết quả thì phải dùng thuốc. Tất nhiên dùng loại thuốc gì và liều lượng ra sao, trong thời gian bao lâu cần có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình, người bệnh không nên tụ động mua thuốc để dùng.
    --------------------------------------------

    Bệnh xơ vữa động mạch là gì?

    Bệnh xơ vữa động mạch là tình trạng động mạch bị xơ cứng, mất đàn hồi và hẹp tắc do sự hiện diện các mảng xơ vữa chứa cholesterol và mỡ xấu (LDL) bên trong lòng động mạch. Tình trạng này làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quy (hay còn gọi là tai biến mạch máu não) khi chúng ảnh hưởng đến những nhánh động mạch cung cấp máu cho tim và não.


    Động mạch là hệ thống mạch máu đưa máu từ tim tới các cơ quan trong cơ thể. Bình thường, bên trong lòng động mạch được lót bởi một lớp tế bào goi là lớp nội mạc mạch máu. Ở những người có nguy cơ bị xơ vữa như tăng cholesterol, tăng huyết áp, béo phì, hoặc một số bệnh lý, nội mạc mạch máu dễ bị tổn thương.
    Các cholesterol và mỡ xấu như LDL xuyên qua thành động mạch bị tổn thương, thu hút các tế bào bạch cầu tới và tích tụ lại thành mảng, Mảng xơ vữa ngày càng lớn dần làm hẹp lòng động mạch. Cuối cùng, mảng xơ vữa có thể bong ra, kích thích tiểu cầu đến bám dính vào, hình thành nên cục máu đông. Cục máu đông sẽ làm động mạch hẹp hơn nữa, dẫn đến giảm lượng máu đến nuôi các cơ quan hoặc có thể di chuyển đến các nơi khác của cơ thể gây thuyên tắc cấp tính tim, não, chân hoặc các cơ quan được nuôi bởi mạch máu bị tắc.
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  9. #9
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.066
    Thanks
    152
    Thanked 325 Times in 271 Posts
    Xơ vữa động mạch: Phòng và điều trị

    Xơ vữa động mạch là bệnh lý về mạch máu do có sự xơ cứng của mạch máu, từ đó làm cho lòng của mạch máu bị hẹp hơn bình thường và sự đàn hồi của mạch máu bị giảm đi.

    Các chất mỡ trong máu tích tụ dần ở lớp trong của thành động mạch và do chất mỡ làm cho thành động mạch dày hơn, kết quả là các động mạch bị hẹp dần lại và lưu thông máu bị cản trở. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ mạch máu nào và vùng nào của cơ thể, nó chính là nguyên gây đột quỵ, những cơn đau thắt ngực và thiểu năng tuần hoàn ở cẳng chân. Bệnh này gặp nhiều nhất là ở người cao tuổi.
    a. Biện pháp phòng ngừa

    Giảm lượng mỡ trong khẩu phần ăn hàng ngày: chọn ăn những loại thịt ít mỡ như: bò nạc, bê, gà, ăn nhiều rau, ăn ít các đồ xào, rán.
    Nên ăn những loại mỡ có lợi: Đó là những loại mỡ được cấu tạo chủ yếu là thành phần axít béo chưa bão hòa: Loại này có nhiều trong các loại dầu ô liu, dầu vừng, lạc, hướng dương, quả bơ sẽ giúp cho cơ thể giảm nguy cơ về bệnh tim mạch.
    Nên ăn nhiều rau quả hoặc sản phẩm có nhiều chất xơ: Các thực phẩm như: Bánh mì, gạo lứt, rau quả có nhiều chất xơ và Vitamin A, B, C, E có tác dụng làm tăng kích thích nhu động của ruột, dạ dày, tăng đào thải những chất cặn bã trong đường ruột, hạn chế quá trình oxy hóa, lão hóa và làm giảm hàm lượng cholesterol “xấu” trong cơ thể.
    Nên ăn các loại cá nhiều mỡ: Trong mỡ cá hàm lượng axít béo loại omega 3 cao rất có lợi cho cơ thể, bởi những axít béo này ngăn chặn được sự hình thành các cục máu đông có nguy cơ gây tắc mạch. Theo các nhà khoa học tại Washington thì nếu sử dụng cá nhiều mỡ thường xuyên có khả năng giảm tới 44% bệnh tim.

    Giảm ăn muối:
    Nên hạn chế muối trong thực đơn hàng ngày. Một số nhà chuyên môn khuyên nên chỉ sử dụng khoảng 1g muối cho mỗi ngày và không nên vượt quá 6g/ngày.

    Nên sử dụng đậu nành:
    Trong đậu nành (tương) có chất tương tự như hormon ostrogen. Có vai trò duy trì ổn định cholesterol trong máu ở mức bình thường do vậy ăn nhiều đậu nành cũng là cách kiểm soát cholesterol.

    Nên hạn chế rượu bia:
    Những người uống rượu bia ít thường có huyết áp ổn định và thấp hơn những người hoàn toàn không uống rượu bia. Song những người uống rượu bia (3 lần/ngày, số lượng > 60ml/lần) có chỉ số huyết áp thường cao hơn và hay xuất hiện những cơn cao huyết áp rất nguy hiểm.

    Bỏ thuốc lá:
    Hút thuốc lá tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch 50%. Nhiều nghiên cứu chứng minh sau khi bỏ thuốc lá, nguy cơ bị các biến cố tim mạch, đặc biệt là nhồi máu cơ tim giảm ngay đáng kể. Những người đã từng bị nhồi máu cơ tim mà còn hút thuốc rất dễ tái phát và nguy cơ tử vong trong năm đầu là 50%.

    Kiểm soát trọng lượng cơ thể:
    Hiện tượng thừa cân và béo phì là nguy cơ trực tiếp đối với sự tăng cholesterol và tăng tỷ lệ nhồi máu cơ tim. Vì thừa cân và béo phì sẽ làm quá trình tích lũy mơdưới da ở bụng, mông, hông và tăng lượng Triglycerit mỡ/máu sẽ làm giảm độ nhạy cảm của gan với kíchthích tăng cholesterol. Vì vậy cần giữ trọng lượng ở mức vừa phải.

    Nên vận động và thể thao thường xuyên:
    Việc vận động thể lực và thể thao thường xuyên giúp duy trì được cân nặng ổn định, tiêu hao những năng lượng dư thừa, giảm đường huyết và cholesterol. Hàng ngày nên vận động như đi bộ, chạy bộ, đạp xe, bơi lội… theo khả năng ít nhất 30 phút mỗi ngày đều đặn.

    Hoạt động tình dục vừa phải:

    Theo thống kê của một số nhà khoa học, hoạt động tình dục quá mức cũng gây nguy cơ nhồi máu cơ tim. Do vậy mỗi người tự lượng sức khi hoạt động tình dục. Đặc biệt không nên hoạt động tình dục khi đã uống rượu quá nhiều.

    Phòng chống stress trong cuộc sống
    Kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, là giải pháp tốt nhất để phát hiện bệnh sớm nhất

    b. Dùng thuốc và các nhóm thuốc

    Dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ điều trị.

    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  10. #10
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.066
    Thanks
    152
    Thanked 325 Times in 271 Posts
    Tim & các bệnh về tim


    1. Tim
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Khái niệm

    Tim là bộ phận quan trọng trong hệ tuần hoàn của động vật, với chức vụ bơm đều đặn để đẩy máu theo các động mạch và đem dưỡng khí và các chất dinh dưỡng đến toàn bộ cơ thể; hút máu từ tĩnh mạch về tim sau đó đẩy máu đến phổi để trao đổi khí CO2 lấy khí O2.

    Cấu tạo tim người


    Tim là 2 khối cơ rỗng, hình tháp, đáy ở trên đỉnh ở dưới Vách nhĩ-thất chia tim thành 2 phần: phải và trái. Tim phải chứa máu đỏ xẫm, nhiều cacbonic. Tim trái chứa máu đỏ tươi, nhiều khí oxi và chất dinh dưỡng. Mỗi bên được chia thành 2 ngăn, trên là tâm nhĩ, dưới là tâm thất, ở giữa có van nối thông với nhau. Giữa tâm thất phải và tâm nhĩ phải là van 3 lá. Giữa tâm thất trái và tâm nhĩ trái là van 2 lá Giữa 2 tâm thất là vách liên thất. Giữa 2 tâm nhĩ là vách liên nhĩ Máu từ tâm thất trái đi ra theo động mạch chủ. Máu từ tâm thất phải đi ra theo động mạch phổi. Giữa các động mạch và các tâm thất có van tổ chim ngăn không cho máu chảy ngược về tim. Máu đỏ xẫm từ tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới đổ vào tâm nhĩ phải. Máu đỏ từ 4 tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái Tim được cáu tạo bằng 3 lớp: màng ngoài tim, cơ tim và màng trong tim Tim được cung cấp máu từ 2 động mạch nhỏ: động mạch vành phải và động mạch vành trái.


    Cơ chế hoạt động của tim


    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •