Trang 2/4 ĐầuĐầu 1234 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 11 tới 20 của 32

Chủ đề: Tuyển tập những bài thơ, bài hát hay chấn động...

  1. #11
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.046
    Thanks
    152
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    Bài thơ gây chấn động dư luận cách nay 27 năm

    Cách đây tròn hai mươi bảy năm, mùa xuân năm 1986, trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” của tác giả Phạm Thị Xuân Khải đăng trên báo Tiền Phong đã gây xôn xao dư luận cả nước.
    Bài thơ được nhiều bạn đọc đánh giá là “trái bom” là “ngòi nổ” đã được châm mồi, có sức công phá lớn, đột phá mạnh góp phần phá vỡ cái bảo thủ trì trệ, thêm một tiền đề tạo nên Cái Mới tiến bộ, thể hiện ở công cuộc Đổi Mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
    Phạm Thị Xuân Khải là ai? Vì sao lại viết bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác”? Sau khi đăng bài thơ, chuyện gì đã đến với Xuân Khải?...


    Đó là những câu hỏi mà bạn đọc của hai mươi năm và cả bây giờ quan tâm muốn tìm câu trả lời. Phóng viên đã tìm gặp tác giả bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác”, để tìm hiểu câu chuyện về cuộc đời nhiều biến cố của bà Phạm Thị Xuân Khải và những câu chuyện xung quanh bài thơ được ví như “trái bom” này.

    1. “Đêm trước” đổi mới

    Thoắt cái đã 20 năm. Kể từ ngày bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” đột ngột xuất hiện trên báo Tiền Phong và gây ra những làn sóng dư luận chưa từng có.
    Tác giả bài thơ - nữ sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Phạm Thị Xuân Khải - lúc ấy đang lặng lẽ đèn sách trong khu KTX nghèo, vốn vẫn thích ẩn mình bỗng dưng nổi tiếng cả nước, bỗng dưng trở thành tâm điểm của cơn “địa chấn” mà cô không ngờ lại do chính mình gây ra ...
    Thời gian chẳng quên ai cả, nữ sinh văn khoa ngày nào giờ đây đã hằn những nếp nhăn trên gương mặt của tuổi ngũ tuần mà mới nhìn qua cũng biết là lắm nỗi truân chuyên.
    Sau chuyến hành trình lắm trục trặc từ Bình Định ra Hà Nội, bà ngồi trước mặt tôi để kể câu chuyện dài về bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” (MXNB).
    Im lặng. Dường như chẳng dễ dàng nói ngay được về cái thời ấy. Cảm xúc căng nén lại. Nhưng rồi bà cũng cất lời, đôi mắt đỏ hoe: “Bài “Mùa xuân nhớ Bác” ra đời sau Tết Bính Dần năm 1986, thời điểm trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - giai đoạn đầy gian khó của đất nước. Cái “thời xa vắng” ấy đã qua 20 năm rồi mà nhiều khi cứ ngỡ như vừa mới hôm qua...”.
    Cứ ngỡ như mới vừa hôm qua, nên lời kể của bà về “bối cảnh ra đời bài thơ” tươi roi rói. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, nền kinh tế quốc gia “tuột dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (chữ dùng của nhà thơ Tố Hữu – Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lúc bấy giờ).
    Cả nước đói ăn. Hoà bình rồi, bữa cơm vẫn “điệp khúc” độn sắn, độn khoai, bo bo, mì hột...Nhiều gia đình “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”.
    Hồi đó có những câu chuyện cười ra nước mắt như một giáo sư có tên tuổi nhưng cũng trong cảnh “chạy gạo” đã phải nuôi lợn trên căn phòng ở tầng 5 của khu chung cư.
    Khi người ta thắc mắc sao lại nuôi lợn ở trên cao như vậy? Vị giáo sư trả lời: Lợn nó nuôi tôi, chứ tôi đâu có nuôi lợn. Nhà thơ Nguyễn Duy cũng nuôi lợn trên lầu ba và ông cay đắng viết là “nâng con lợn lên ngang tầm thời đại”.
    Nguyễn Duy đã “vẽ” bức tranh đất nước thời ấy bằng những câu thơ trong bài thơ “Đánh thức tiềm lực”: “Này, đất nước của 3 miền cày ruộng/ Chưa đủ no cho đều khắp 3 miền/ Ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/ Tiềm lực còn ngủ yên”.
    “Sau chiến tranh đã hơn 10 năm mà đời sống nhân dân mỗi ngày khó khăn chồng chất thêm: Những người thợ mỏ than phải ăn gạo mốc, gạo hẩm. Nông dân mùa màng thất bát, vất vả quanh năm mà không đủ nộp thuế. Công chức nhà nước vẫn tiếp tục sống trong cảnh bao cấp ngặt nghèo, xếp hàng đong từng cân gạo. Học sinh bỏ học, giáo viên bỏ nghề. Bộ đội giữa thời bình vẫn tiếp tục với những bữa ăn “canh toàn quốc, nước chấm đại dương”.
    Cựu chiến binh qua hai cuộc kháng chiến nghỉ hưu rồi mà vẫn phải đối mặt với cảnh: “Lương hưu hết rồi/ Buổi chiều biết tính sao đây?”. Đời sống nhân dân đã khổ lại ngày càng khó khăn hơn với những giáo điều cứng nhắc, như sợi dây rất chắc, giằng buộc nhau, không thoát ra được.
    Trong khi đó, một bộ phận cán bộ lại thoái hóa, bê tha, phá hoại nền kinh tế đất nước, khiến cho nhân tâm ly tán. Điều đó làm tôi nhớ đến một câu nói của nhà văn Pháp thế kỷ XIX rằng: “ Người thất bại trong mọi cuộc chiến tranh là nhân dân. Không. Không thể nào như thế được! Nhân dân ta đã thắng và sẽ thắng mọi nghèo nàn lạc hậu, mọi cản trở khó khăn…”. Bà nói như độc thoại. Mắt lại đỏ hoe.
    Một đêm mùa xuân của năm 1986, cô sinh viên văn khoa với nỗi đau đáu thế sự ấy đã thức dậy lúc 2 giờ sáng làm bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác”. Đôi mắt cũng đỏ hoe như lúc đang ngồi với tôi đây.
    Khi đó, Xuân Khải đã “cả gan” gửi bài thơ cho đồng chí Lê Đức Thọ - ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Cô không có ý định đăng báo vì nghĩ “không có Tổng Biên tập nào vào thời điểm đó đơn phương dám duyệt đăng bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác”.
    Đó là ngày 25/3/1986, Xuân Khải không bao giờ có thể quên được. Bài thơ in trang trọng trên số báo đặc biệt kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3. Ngay lập tức số báo ấy được bạn đọc cả nước “săn lùng” mua cho bằng được.
    Một hiện tượng hiếm có trong làng báo đã diễn ra. Báo vừa phát hành đã hết veo. Thời gian ấy máy photocopy còn hiếm, các cơ quan, công sở hầu hết còn dùng máy chữ và in rônêô, chưa có điều kiện nhân bản, in ấn với số lượng nhiều và nhanh như bây giờ.
    Mặc dù vậy, nhưng mọi người đều cố tìm mua báo Tiền Phong, mua lại những tờ đánh máy, in rônêô với giá cao gấp nhiều lần so với bình thường. Nhiều người phải chép tay bài thơ và nhanh chóng thuộc lòng...
    Bà Xuân Khải vẫn nhớ như in những ngày đó: “Tôi được biết lúc ấy đồng chí Nguyễn Văn Linh – Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Văn Kiệt, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội họp cũng tìm báo Tiền Phong để đọc bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác”.
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi xin tờ báo, tôi đã tặng Đại tướng tờ báo duy nhất tôi còn lại. Một người bạn tôi thiết tha đề nghị tôi kiếm cho tờ báo Tiền Phong có bài thơ để anh ta biếu cho ông Viện sỹ khoa học người Nga sang công tác tại Việt Nam. Ông Viện sỹ này muốn tận mắt nhìn thấy bài thơ là có thật.
    Khắp nơi trong cả nước từ cán bộ công chức đương nhiệm, đến các cụ đã nghỉ hưu, từ công nhân trong các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ đến những người nông dân đang một nắng hai sương, các bạn sinh viên, các anh bộ đội...đều quan tâm đến bài thơ.
    Điều đáng ngạc nhiên hơn cả là bài thơ đã rất thu hút nhiều em học sinh phổ thông. Tôi và có lẽ cả độc giả đều không ngờ bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” lại “lách” qua được “khe cửa hẹp” của bức tường bảo thủ trì trệ cản trở sự đi lên của đất nước”.
    Trong sự sôi nổi ấy, vẫn rờn rợn một khoảng lặng nào đó và dường như những người có quan điểm đổi mới lẫn bảo thủ nhất đều tự hỏi: Phạm Thị Xuân Khải là ai?
    Và điều gì sẽ đến với nữ sinh viên khoa Văn Tổng hợp, tác giả của bài thơ chỉ mới đăng báo ít ngày đã làm “động trời dư luận”, như cách nói của bạn đọc lúc bấy giờ?

    2. và “trái bom” thơ
    Mùa xuân nhớ Bác
    Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
    Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết
    Vần thơ thân thiết ấm áp lòng người
    Bác đã đi xa rồi
    Để lại chúng con bao nỗi nhớ
    Người cha đã đi xa.
    Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
    Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
    Làm sao có thể quên mỗi lần gặp Bác
    Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
    Người thường nhắc nhở:
    Yêu nước, thương dân
    Dẫu thân mình có phải hy sinh
    Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.
    Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
    Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
    Day dứt vì mình chưa làm được
    Những điều hằng ước mơ
    Những điều chúng tôi thề
    Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
    Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
    Được Đảng chăm lo
    Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất
    Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
    Không ít người đang lỡ thì, mai một.
    Theo năm tháng cuộc đời
    Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
    Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
    Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
    Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng
    Mỗi vụ gieo trồng có phải đâu là lép cả?
    Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
    Những trang sử vẻ vang dân tộc
    Chúng tôi được học
    Được thử thách nhiều trong chiến tranh
    Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ - Quang Trung
    Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
    Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
    Có học hành, lại phải sống cầu an
    Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
    Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?
    Đồng chí không bằng đồng tiền
    Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
    Có ai thấu chăng và ai phải sửa?
    Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác
    Lòng vẫn thầm mơ ước
    Bác Hồ được sống đến hôm nay
    Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
    Trừ những thói đời làm dân oán trách
    Có mắt giả mù, có tai giả điếc
    Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
    Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ
    Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
    Tham quyền cố vị sợ trẻ hơn già
    Quên mất lời người xưa:
    “Con hơn cha là nhà có phúc”
    Thời buổi này, không thiếu người xông pha thuở trước
    Nay say sưa trong cảnh giàu sang
    Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?
    Mùa xuân đất nước
    Nhớ mãi Bác Hồ
    Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người
    Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.
    Xuân Bính Dần (1986)
    Phạm Thị Xuân Khải

    Lần sửa cuối bởi thieugia; 29-07-2013 lúc 05:50 AM
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  2. The Following User Says Thank You to thieugia For This Useful Post:

    nosay (29-07-2013)

  3. #12
    Member
    Tham gia ngày
    Mar 2012
    Bài gửi
    81
    Thanks
    30
    Thanked 7 Times in 6 Posts
    Một bài thơ hay, một sự kiện lớn như thế mà đến giờ nosay mới đọc mới biết.
    Cám ơn thieugia đã đăng tin lại.
    --- Vui Câu Nhân Nghĩa Tròn Sau Trước
    Lấy Chữ Chân Tình Gửi Tặng Nhau! ---

  4. #13
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.046
    Thanks
    152
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    Tác giả: Tố Hữu




    Trời Hậu Giang, tù và dậy rúc
    Phèng la kêu, trống giục vang đồng
    Đường quê đỏ rực cờ hồng
    Giáo lê sáng đất, tầm vông nhọn trời
    Quyết một trận, quét đời nô lệ
    Quăng máu xương, phá bẻ xiềng gông!

    Hỡi ôi! Việc chửa thành công
    Hôm nay máu chảy đỏ đồng Hậu Giang
    Giặc lùng, giặc đốt xóm làng
    Xác xơ cây cỏ, tan hoang cửa nhà
    Một vùng trắng bãi tha ma
    Lặng im, không một tiếng gà gáy trưa
    Có ai biết, ai ngờ trong đó
    Còn chơ vơ một ổ lều con
    Đạn bom qua, hãy sống còn
    Núp sau lưng rộng một hòn đá to.
    Có ai biết trong tro còn lửa
    Một má già lần lữa không đi
    Ở đây sóng gió bất kỳ
    Má ơi, má ở làm chi một mình ?
    Rừng một dải U Minh tối sớm
    Má lom khom đi lượm củi khô
    Ngày đêm củi chất bên lò
    Ai hay má cất củi khô làm gì?
    Hay má lẫn quên vì tuổi tác
    Hay má liều một thác cho yên ?

    Bỗng đâu một buổi mai lên
    Trên đường quê ấy qua miền nghĩa quân
    Một tán quỷ rần rần rộ rộ
    Mắt mèo hoang, mũi chó, râu dê
    Súng trường nhọn hoắt lưỡi lê
    Khét nồng khí chết, tanh dề máu oan!
    Chúng rảo bước. Lính quan nện gót
    Mắt nhìn quanh lục mót dạng người
    Đồng không, lạnh vắng, im hơi
    Chỉ đôi bóng quạ ngang trời loáng qua
    Ách là! Thằng quan ba dừng bước
    Rút ống dòm, và ngước mắt nheo
    Xa xa, sau lớp nhà xiêu
    Một tia khói nhỏ ngoằn ngoèo bay lên...

    Hắn khoái trá cười điên sằng sặc
    Nhe hàm răng sáng quắc như gươm
    Vẫy tay lũ tớ gườm gườm
    Như bầy chó đói chực chồm miếng ăn.
    Rồi lặng lặng bước chân hùm sói
    Tiến dần lên tia khói, vây quanh...

    Má già trong túp lều tranh
    Ngồi bên bếp lửa, đun cành củi khô
    Một mình má, một nồi to
    Cơm vừa chín tới, vùi tro, má cười...

    Chết! Có tiếng gì rơi sột soạt ?
    Má già run, trán toát mồ hôi
    Chạy đâu ? Thôi chết, chết rồi!
    Gót giày đâu đã đạp rơi liếp mành.
    Một thằng cướp, mắt xanh mũi lõ
    Đốc gươm dài tuốt vỏ cầm tay
    Rung rinh bậc cửa tre gầy
    Nghênh ngang một ống chân đầy lối đi!


    Như bầy chó đói chực chồm miếng ăn

    Hắn rướn cổ, giương mi, trơn mắt
    Như hổ mang chợt bắt được mồi
    Trừng trừng trông ngược trông xuôi
    Trông vào bếp lửa: Một nồi cơm to.
    Hắn rống hét: "Con bò cái chết!
    Một mình mày ăn hết này sao ?
    Đừng hòng che được mắt tao
    Khai mau, du kích ra vào nơi đâu ?
    Khai mau, tao chém mất đầu!"
    Má già lẩy bẩy như tàu chuối khô
    Má ngã xuống bên lò bếp đỏ
    Thằng giặc kia đứng ngõ trừng trừng
    Má già nhắm mắt, rưng rưng
    "Các con ơi! ở trong rừng U Minh
    Má có chết, một mình má chết
    Cho các con trừ hết quân Tây!"
    Thằng kia bỗng giậm gót giày
    Đạp lên đầu má: "Mẹ mày, nói không?"
    Lưỡi gươm lạnh toát kề hông
    "Các con ơi! Má quyết không khai nào!"
    Sức đâu như ngọn sóng trào
    Má già đứng dậy, ngó vào thằng Tây
    Má hét lớn: "Tụi bay đồ chó!
    Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
    Tao già không sức cầm dao
    Giết bay, có các con tao trăm vùng!
    Con tao, gan dạ anh hùng
    Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!
    Thân tao chết, dạ chẳng sờn!"
    Thương ôi! Lời má lưỡi gươm cắt rồi!
    Một dòng máu đỏ lên trời
    Má ơi, con đã nghe lời má kêu!
    Nước non muôn quý ngàn yêu
    Còn in bóng má sớm chiều Hậu Giang.
    Lần sửa cuối bởi thieugia; 29-07-2013 lúc 11:49 PM
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  5. #14
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.046
    Thanks
    152
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    Lời bài hát:
    Giải Phóng Miền Nam

    Tác giả: Huỳnh Minh Siêng
    Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước.
    Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước.
    Ôi xương tan máu rơi.
    Lòng hận thù ngất trời.
    Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.


    Đây Cửu Long hùng tráng.
    Đây Trường Sơn vinh quang thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù.
    Vai sát vai chung một bóng cờ.
    Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng.
    Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng.
    Thề cứu lấy nước nhà.
    Thề hy sinh đến cùng.
    Cầm gươm ôm súng xông tới.
    Vận nước đã đến rồi bình minh chiếu khắp nơi.
    Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.

    -----------------------------------------------------
    thieugia sưu tầm và giới thiệu
    Lần sửa cuối bởi thieugia; 31-07-2013 lúc 12:26 PM
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  6. #15
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.046
    Thanks
    152
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    Lời bài hát:
    Nguyễn Bá Ngọc người thiếu niên dũng cảm

    Sáng tác: Mộng Lân

    Trên đất nước anh hùng ngày ngày ghi những chiến công
    Gương anh Nguyễn Bá Ngọc sáng soi rực rỡ núi sông
    Anh hiến dâng cả cuộc đời băng qua lửa đạn bom rơi
    Cứu em nhỏ thoát cơn bom đạn giặc Mĩ
    Bom đạn réo quanh mình mặc cho đạn réo bom rơi
    Anh đã lấy thân mình che chở cho bé em
    Yêu đứa em hơn đời anh băng qua lửa đạn bom rơi
    Nguyễn Bá Ngọc đã vì bạn mà hy sinh

    Anh qua đời guơng anh còn soi
    Chí kiên cường và lòng dũng cảm
    Ta thêm tự hào ghi tên của anh
    Trong sổ vàng truyền thống Đội ta

    Điệp khúc:

    Đây Thanh Hoá anh hùng và dòng sông Mã mến yêu
    Vang chiến thắng hôm nào có tên của anh
    Đây tấm gương của tuổi xanh
    Khi hy sinh thật vẻ vang
    Chí anh hùng như Nguyễn Bá Ngọc thật vinh quạng


    Anh qua đời gương anh còn soi
    Lớp lớp người đang vùng đứng dậy
    Ghi mối thù sâu
    Giết hết giặc Mĩ
    Cho đàn em vang tiếng cười vui
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  7. #16
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jul 2013
    Bài gửi
    163
    Thanks
    21
    Thanked 20 Times in 15 Posts
    Quote Nguyên văn bởi thieugia Xem bài viết
    Lời bài hát:
    Giải Phóng Miền Nam

    Tác giả: Huỳnh Minh Siêng
    Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước.
    Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước.
    Ôi xương tan máu rơi.
    Lòng hận thù ngất trời.
    Sông núi bao nhiêu năm cắt rời.

    Đây Cửu Long hùng tráng.
    Đây Trường Sơn vinh quang thúc giục đoàn ta xung phong đi giết thù.
    Vai sát vai chung một bóng cờ.
    Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng.
    Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng.
    Thề cứu lấy nước nhà.
    Thề hy sinh đến cùng.
    Cầm gươm ôm súng xông tới.
    Vận nước đã đến rồi bình minh chiếu khắp nơi.
    Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.

    -----------------------------------------------------
    thieugia sưu tầm và giới thiệu
    Ô hô!
    Chưa có giải phóng Điện Biên thì làm sao đã Giải phóng miền Nam nhể ? Để em bổ xung thêm lời và nhạc bài Giải phóng Điện Biên cho thêm phong phú nhá.

    Giải phóng Điện Biên
    Tác giả: Đỗ Nhuận

    Giải phóng Điện Biên bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa này hoa nở
    Miền Tây Bắc tưng bừng vui bản mường xưa
    Nương lúa mới trồng
    Kìa đàn em bé giữa đồng nắm tay xoè hoa dọc đường chiến thắng
    Ta tiến về đoàn dân công tiền tuyến vẫy chào pháo binh vượt qua..
    Súng đại bác quấn lá ngụy trang từng đàn bươm bướm trắng rỡn lá ngụy trang..
    Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc
    Đồng bào nao nức mong đón ta trở về giờ chiến thắng ta đã về
    Vui mừng đón chúng ta tiến về núi sông bừng lên đất nước ta
    Sáng ngời cánh đồng Điện Biên cờ chiến thắng tưng bừng trên trời.
    Giải phóng miền Tây bộ đội ta đã mau trưởng thành thắng trận.
    Điện Biên Phủ càng tin quyết tâm ở trên.


    Đổ mồ hôi phá núi bắc cầu vượt rừng qua suối đắp đường thắng lợi
    Về đây phương châm đánh chắc ta tiến lên lực lượng như bão táp
    Quân thù mấy cũng phải tan vang lừng tiếng súng
    Khi mừng công thoả lòng ta dâng Bác bấy lâu chờ mong..
    Xiết bao sướng vui nhìn đồng quê phơi phới nông dân hăng hái
    Khi chúng ta trở về ruộng đất chúng ta đã về
    Vui mừng đón chúng ta tiến về chiến sĩ Điện Biên
    Thế giới đang đón mừng chiến dịch đại thắng lợi góp sức xây dựng hoà bình..
    Lần sửa cuối bởi doancongtu; 31-07-2013 lúc 01:54 PM

  8. #17
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    669
    Thanks
    16
    Thanked 91 Times in 76 Posts
    Màu tím hoa sim & lời trần thuật của tác giả
    1. Màu Tím Hoa Sim

    MÀU TÍM HOA SIM
    Tác giả: Hữu Loan

    Nàng có ba người anh
    Đi bộ đội
    Những em nàng còn chưa biết nói
    Khi tóc nàng xanh xanh.

    Tôi là người chiến binh
    Xa gia đình
    Yêu nàng như tình yêu em gái
    Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
    Tôi mặc đồ quân nhân
    Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
    Nàng cười xinh xinh
    Bên anh chồng độc đáo.
    Tôi ở đơn vị về
    Cưới nhau xong là đi!

    Từ chiến khu xa
    Nhớ về ái ngại
    Lấy chồng đời chiến chinh
    Mấy người đi trở lại
    Lỡ khi mình không về
    Thì thương người vợ chờ
    Bé bỏng chiều quê ...

    Nhưng không chết người trai khói lửa
    Mà chết người gái nhỏ hậu phương
    Tôi về không gặp nàng
    Má tôi ngồi bên mộ con
    Đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    Thành bình hương
    Tàn lạnh vây quanh ...

    Tóc nàng xanh xanh
    Ngắn chưa đầy búi
    Em ơi!
    Giây phút cuối
    Không được nghe nhau nói
    Không được trông thấy nhau một lần.

    Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
    áo nàng màu tím hoa sim
    Ngày xưa một mình
    đèn khuya
    bóng nhỏ
    Nàng vá cho chồng tấm áo
    ngày xưa...


    Một chiều rừng mưa
    Ba người anh
    Trên chiến trường Đông Bắc,
    Biết tin em gái mất
    Trước tin em lấy chồng.

    Gió sớm thu về
    Rờn rợn nước sông
    Đứa em nhỏ lớn lên
    Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
    Khi gió thu về
    Cỏ vàng chân mộ chí.

    Chiều hành quân
    Qua những đồi sim ..
    Những đồi hoa sim ...,
    Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim
    Tím cả chiều hoang biền biệt
    Nhìn áo rách vai
    Tôi hát trong màu hoa.
    Áo tôi sứt chỉ đường tà,
    Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu.
    2. Lời Trần Thuật của tác giả


    Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo,hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa,chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà . Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. lên trung học,theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học . đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi- Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn .Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy , trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và ...Tôi - Nguyễn Hữu Loan.

    Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên . Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

    Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt,coi tôi chẳng khác như người nhà ..Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: " Em chào thầy ạ"Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy,tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằng sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non".. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....

    Có lần tôi kể chuyện " bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền,em nằm lì trong buồn trong, không chịu học hành....Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ....Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồn. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: " mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

    Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. bất chợt em hỏi tôi:
    -Thầy có thích ăn sim không ?
    Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt qúa nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những qủa sim đen láy chín mọng.
    -Thầy ăn đi.
    Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
    -Ngọt qúa.

    Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, qủa sim đối với chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những qủa sim ngọt đến thế!
    Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác.Tôi nhìn em, em cười. hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

    Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi ....lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại....em vẫn đứng yên đó ....Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.....

    Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ .....

    Chín năm sau, tôi trở lại nhà....Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....


    Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản".
    Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: " yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói , hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

    Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân , theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, Em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

    Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi .

    Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

    Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng có em chưa biết nói
    Khi tóc nàng đang xanh ....
    ...Tôi về không gặp nàng....

    Còn nữa...
    Lần sửa cuối bởi Shaolaojia; 02-08-2013 lúc 10:55 AM

    一壶浊酒喜相逢
    古金多少事,都付笑谈中


    Một vò rượu đục vui gặp gỡ,
    Chuyện đời tan trong chén rượu nồng./.

  9. #18
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    669
    Thanks
    16
    Thanked 91 Times in 76 Posts
    Màu tím hoa sim

    Tiếp theo trang trước

    Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :

    Chiều hành quân, qua những đồi sim
    Những đồi sim, những đồi hoa sim
    Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
    Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
    Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

    Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa.. Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

    Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 người làng Nguyên Hoàn thuộc xã Mai Lĩnh. huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

    3. Ca khúc ăn theo "Màu tím hoa sim"


    Những đồi hoa sim - Tuấn Vũ trình bày

    Tp. HCM, ngày 02.8.2013
    Shaolaojia sưu tầm, biên tập và giới thiệu

    一壶浊酒喜相逢
    古金多少事,都付笑谈中


    Một vò rượu đục vui gặp gỡ,
    Chuyện đời tan trong chén rượu nồng./.

  10. #19
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    2.046
    Thanks
    152
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    Bài thơ
    Đôi dép Bác Hồ
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

    Đôi dép Bác Hồ nguyên là một đôi dép lốp cũ được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng trong hơn 20 năm, từ năm 1947 đến khi Bác qua đời. Hiện nay, đôi dép này là một trong các hiện vật quan trọng của Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, đang được đệ trình công nhận là bảo vật quốc gia của Việt Nam. Tại Việt Nam và ở một số quốc gia thân hữu, đôi dép này được xem như là một trong những biểu tượng về cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh, được đề cập trong nhiều bài báo cũng như một số bài hát, bài thơ.
    Lịch sử ra đời

    Đôi dép này được làm ra vào khoảng năm 1947, chế tạo từ một chiếc lốp ô tô quân sự của quân đội Pháp do quân đội Việt Nam thu được sau trận phục kích tại Việt Bắc, và được gửi tặng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh như một vật lưu niệm về chiến thắng. Đôi dép lốp này Bác đã sử dụng hơn 20 năm, kể từ năm 1947, và cũng từng theo chân Bác đi thăm các quốc gia bạn, như tại Ấn Độ, và hiện nay được được đặt trong Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh như một di vật của

    Biểu tượng cuộc đời cách mạng

    Như nhiều người Việt Nam trải qua thời kỳ chiến tranh, Hồ Chí Minh sử dụng dép lốp đơn giản bởi sự tiết kiệm và tiện dụng của nó. Tuy nhiên, với cương vị là nguyên thủ chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ của phong trào độc lập và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, trang phục giản dị và tiết kiệm của Bác, trong đó có đôi dép lốp, trở thành những biểu tượng tuyên truyền hiệu quả, tạo ra sự khác biệt về hình ảnh Hồ Chí Minh gần gũi với dân chúng so với các đối thủ chính trị của Bác.


    Đôi dép Bác Hồ - niềm tự hào của người dân Việt

    Năm 1960, khi Bác đến thăm một đơn vị Hải quân Nhân dân Việt Nam, khi mọi người vây quanh đề nghị Bác thay đôi dép cũ, Bác nói:
    “ Các cháu nói đúng nhưng chỉ đúng một nửa, dép của Bác cũ nhưng chỉ mới tụt quai, cháu đã chữa lại chắc chắn thì còn thọ lắm! Mua đôi khác chẳng đáng là bao nhưng khi chưa cần thiết cũng chưa nên. Ta phải biết tiết kiệm vì đất nước ta còn nghèo … ” - Hồ Chí Minh.

    Trong tiếng Anh, người ta quen dùng cụm từ "Ho Chi Minh sandals" để chỉ những chiếc dép lốp. Hình tượng trong văn hóa đại chúng. Đây cũng là tên nhiều bài thơ và bài hát liên quan đến cuộc đời Hồ Chí Minh. Riêng bài thơ "Đôi dép Bác Hồ" được nhạc sĩ Văn An phổ nhạc, rất nổi tiếng và đã đi vào lòng người dân Việt Nam hơn nửa thế kỷ.


    Đôi dép của Hồ Chí Minh thường được dùng như một ví dụ về "sự giản dị và đức tính tiết kiệm" của Bác. Như một bài báo đã viết: "Đôi dép ấy rất đỗi bình dị, mộc mạc đơn sơ, nhưng thật nhiều ý nghĩa như chính cuộc đời Bác kính yêu. Bởi đôi dép cao su đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác. Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta."

    Hình ảnh về đôi dép của Hồ Chí Minh đã đi vào thơ văn Việt Nam như bài thơ kể về đôi dép được Tạ Hữu Yên sáng tác vào năm 1969:

    Đôi dép đơn sơ
    Đôi dép Bác Hồ
    Bác đi từ ở chiến khu Bác về
    Phố phường, trận địa, nhà máy, đồng quê.
    Đều in dấu dép Bác về Bác ơi.
    Dép này Bác trải đường dài
    Đã cùng Bác vượt chông gai
    Xây non nưước nhà.
    Đường đi chiến đấu gần xa
    Dấu dép cha già dẫn lối con đi…
    Từ lời thơ ấy, Nhạc sĩ Văn An cũng có viết một bài hát mang tên " Đôi dép Bác Hồ" vào những năm 1970, để nhớ về Hồ Chí Minh, lời bài hát như sau:

    Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ
    Bác đi từ ở chiến khu Bác về, Bác đi từ ở chiến khu Bác về.
    Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về Bác ơi, đều in dấu dép Bác về Bác ơi.
    Dép này Bác trải đường dài, đã cùng Bác vượt chông gai xây non nước nhà.
    Đường đi chiến đấu gần xa dấu dép cha già dẫn lối con đi, dấu dép cha già dẫn lối con đi.
    Bài hát này đã được nhiều ca sĩ danh tiếng của dòng nhạc đỏ thể hiện, như Bích Liên, Tuyết Nhung, Thu Hiền, ...

    Nhạc sĩ Thuận Yến cũng có một bài hát Đôi dép Bác Hồ cùng tên, cũng phổ từ lời thơ của Tạ Hữu Yên, nhưng không nổi tiếng bằng. Năm 2012, nhà thơ Nguyễn Hưng Hải cũng có một bài thơ mang tựa đề Đôi dép Bác Hồ nhưng không nổi tiếng bằng.


    Tp. HCM, ngày 13.8.2013
    Thiều Ngọc Sơn sưu tầm và giới thiệu
    Lần sửa cuối bởi thieugia; 13-08-2013 lúc 11:11 AM
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  11. #20
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jul 2013
    Bài gửi
    279
    Thanks
    18
    Thanked 46 Times in 39 Posts
    Quote Nguyên văn bởi Shaolaojia Xem bài viết
    Lúc tui còn nhỏ, đâu hồi tiểu học gì đó nhớ học bài thơ này, bài thơ "Thằng Tây" tuy ngắn nhưng rất hay không biết của tác giả nào. Nay chép ra để mọi người cùng thưởng lãm.



    Thằng Tây
    Tác giả: Khuyết Danh



    Thằng tây chớ cậy xác dài !

    Thằng Tây chớ cậy xác dài,
    Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày.
    Thằng Tây chớ cậy béo quay,
    Mày thức hai buổi là mày bở hơi.


    Thằng Tây chớ cậy béo quay

    Chúng tao thức bốn đêm rồi,
    Ăn cháo ba bữa chạy mười chín cây.
    Bây giờ mới gặp mày đây,
    Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao.


    Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày. Thế mới tài !



    Bài thơ hay nhưng rất ít người biết.

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •