Hiện kết quả từ 1 tới 5 của 5

Chủ đề: Họ Thiều - Một dòng họ danh giá trong lòng dân tộc Việt

  1. #1
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    1.978
    Thanks
    150
    Thanked 324 Times in 270 Posts

    Họ Thiều - Một dòng họ danh giá trong lòng dân tộc Việt

    HỌ THIỀU - MỘT DÒNG HỌ DANH GIÁ TRONG LÒNG DÂN TỘC VIỆT


    Trước tiên cần khẳng định, họ Thiều có nguồn gốc ở Thái Nguyên thuộc tỉnh Hà Bắc, nay thuộc Tp. Bắc Kinh, Trung Quốc. Trong 553 họ của người Trung Quốc (được liệt kê trong sách Bách Gia Tính, sách được cho do người đời Bắc Tống sáng tác), họ Thiều được xếp thứ 260. Tuy chỉ xuất hiện ước bảy trăm năm trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc thế nhưng, xuyên suốt quá trình phát triển của mình, dòng họ Thiều Việt Nam đã sản sinh nhiều bậc hiền tài với những đóng góp to lớn cho sự phồn thịnh của đất nước.

    1. “Thượng đẳng phúc thần Đại vương” – Tướng công Thiều Thốn.

    Theo gia phả ghi lại, khoảng vào đời vua Trần Anh Tông (1294-1315), cụ thủy tổ của họ Thiều là đức Thiều Kim Tinh nhân nhà Tống có loạn giặc Nguyên Mông mới cùng hai con trai là Thiều Kim Nhật và Thiều Kim Tình xuất phát từ Thiều Châu (tỉnh Quảng Đông, TQ) chạy sang Việt Nam tránh loạn. Khi đến đất Thọ Sơn (nay là thôn Nhuận Thạch, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa), nhân thấy cảnh vật hiền hòa, sơn thủy hữu tình, lại xem phong thủy biết đấy là thế đất “long chầu hổ phục” nơi có thể phát tích hưng long cho con cháu nên đức sáng tổ mới quyết định an cư và coi đất Thọ Sơn của Đại Việt như quê hương thứ hai của mình.

    Được biết, trong hai người con trai chạy loạn cùng đức sáng tổ, đức Thiều Kim Nhật sinh được một người con trai tên là Thiều Kim Xích (trong gia phả chỉ có chút thông tin như thế nên hiện nay không thể truy nguyên, không ai biết sinh sống ở đâu). Riêng đức Thiều Kim Tình lấy Tổ tỷ là cụ bà Nguyễn Thị Ngọc Nga, người xã Triệu Xá (nay thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn) sinh ra đức ông Thiều Thốn, người có công rất lớn trong việc giữ yên cơ nghiệp nhà Trần.


    Đức Thiều Thốn nguyên có tên là Thiều Kim Thốn sinh vào ngày 3 tháng 3 năm Khai Thái thứ 3 (開泰 - 1326) đời vua Trần Minh Tông (陈 明宗) tại xã Thọ Sơn, tổng Thanh Khê, phủ Thiệu Hóa (nay là làng Nhuận Thạch, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Tương truyền khi sinh ra đức ông có tướng mạo khôi ngô dĩnh ngộ, tuấn tú khác thường. Mắt rồng mày phượng, chân trái có chữ vương ( 王), tư chất thông minh, sức khỏe hơn người. lên bảy tuổi đã xin mẹ cho đi học.

    Cha mất từ lúc ngài chưa sinh, nhà nghèo nên chàng trai Thiều Kim Thốn thường ngày phải lên núi hái củi mưu sinh, thờ mẹ tận hiếu. Những lúc nhàn rỗi, chàng lại cùng đám thanh niên trong làng luyện quyền múa võ đợi dịp báo đền ơn nước (đến nay, phía trước núi Đào Sơn về phía Nam vẫn còn một cái gò gọi là gò Lực sĩ, theo truyền thuyết trong dân gian, gò này chính là gò mà lúc thiếu thời, chàng trai Thiều Kim Thốn và trai tráng các làng luyện tập võ nghệ)...

    Lớn lên, gặp lúc Chiêm Thành thường xuyên quấy nhiễu, trong nước giặc cỏ nổi lên như cồn... xã tắc đảo điên. Tuân Mẫu mệnh, Thiều Thốn tòng quân hết lòng "Tinh trung báo quốc" và có công rất lớn trong việc đánh đuổi Chiêm Thành, bình "loạn tặc" Ngô Bệ... được vua Trần tin yêu cho giữ chức Kim Ngô vệ đại tướng quân (chức quan to nhất phụ trách Cẩm vệ quân bảo vệ vua và Hoàng thành) lại gả con gái yêu là Công chúa Trần Thị Ngọc Hải (tục gọi đức ông là "Phò mã đô úy").

    Cuối đời nhà Trần, do các vua bỏ bê chính sự, ham mê sắc dục... Trong nước thực hiện chính sách sưu cao thuế nặng, giặc giã nổi lên khắp nơi. Quý tộc nhà Trần tranh giành quyền lực, gian thần kéo bè kết đảng v.v. khiến nhân dân vô cùng chán nản (Điển hình là vụ "Thất Trảm Sớ" của đại thần Chu Văn An - 朱文安, một vị quan thanh liêm, trung thần tại triều đình, đã dâng "Thất trảm sớ - 七斬疏" đề nghị trị tội những tên tham quan ô lại nhưng không được Dụ Tông chấp thuận đành cáo lão từ quan). Bên ngoài, ngoại bang dòm ngó...

    Trước tình hình ấy, Thiều Thốn được triều đình tiến cử giữ chức "Phòng ngự sứ Lạng Giang". Sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ và KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC viết: "Thiều Thốn giỏi an dân, khéo vỗ về phủ dụ quân sĩ nên ai cũng yêu kính". Phòng ngự xứ Thiều Thốn tận trung báo nước, hết lòng vì công việc, có công rất lớn trong việc giúp vua giữ yên bờ cõi, giúp nhân dân an cơ lập nghiệp. Trong giữ vững cơ nghiệp nhà Trần, ngoài trấn áp, tránh sự nhòm ngó của ngoại bang...

    Đức ông làm quan trải qua 3 đời vua: Trần Dụ Tông - 陈裕宗 (1342-1369), Trần Nghệ Tông - 陈藝宗 (1371-1372) và Trần Duệ Tông - 陈睿宗 (1372-1377), trong quá trình làm quan, ông được các vua nhà Trần phong “Khai quốc công thần, Phụ quốc Thượng tướng công” kiêm “Kim Ngô vệ Phò mã Đô úy Thượng trụ quốc”.


    Dâng hương trong buổi giỗ Tướng công Thiều Thốn ngày 8/8 AL (2015)

    Khi mất (ngày 8.8 năm Canh Thân 1380, hưởng thọ 55 tuổi) đức Thiều Thốn được nhà Trần sắc phong “Thượng đẳng phúc thần Đại vương”, lại lệnh cho nhân dân các Tổng thuộc phủ Thiệu Hóa Thanh Hóa lập đền thờ quanh năm hương khói. Hiện nay, ngoài đền thờ chính ở núi Đào Sơn (thôn Nhuận Thạch, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa), còn có đền thờ Nghè Tam Tổng (làng Triệu Xá, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) và tại nơi khi xưa đức ông làm Phòng Ngự sứ (tại Đông Bình, Lạng Giang) vì cảm ân đức trời bể của ông, nhân dân vùng biên ải Lạng Giang cũng lập đền thờ, quanh năm tế lễ.

    2. Mạ Tặc Thượng Đẳng Thần – Thượng Thư Bộ Lại Thiều Quy Linh (1479-1527)

    Vào triều vua Lê Uy Mục niên hiệu Đoan Khánh (Ất Sửu năm 1505) có đức ông Thiều Quy Linh tên húy là Lãng, tự là Trực Lương (cháu đời thứ 6 của đức Thiều Thốn, người làng Y Xá, nay là xã Đông Văn, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) thi đỗ Đệ Nhị giáp tiến sĩ (hiện còn trong bia Tiến sĩ ở văn miếu Quốc Tử Giám), làm quan đến chức Lại Bộ Thị Lang kiêm Lễ Bộ Tham tri, Thượng thư Thọ Xuyên Hầu.

    Vào triều vua Lê Chiêu Tông đức Thiều Quy Linh được sung chức Bồi Tòng tả thị lang tháp tùng đoàn sứ thần sang sứ bên Trung Quốc. Khi đoàn sứ thần về đến cầu Long nhĩ, sông Nhị Hà (sông Hồng bây giờ) nghe tin Mạc Đăng Dung bắt và giết chết vua Lê Chiêu Tông (năm 1526), phế truất Cung Hoàng tự lên ngôi lập ra nhà Mạc. Đức ông khóc lóc tiếc thương cho cơ nghiệp nhà Hậu Lê đồng thời chửi bới ngụy Mạc hết lời sau đó nhảy xuống sông Nhị Hà tuẫn tiết. Niên hiệu Thành Thái năm thứ 2 (1890), nhà Nguyễn vì tôn kính gương tuẫn tiết của bậc trung thần bèn sắc phong đức Thiều Quy Linh là “Lại Bộ Thượng Thư Tiết Nghĩa Tôn Thần”, gia phong “Quảng Ý Dực Bảo Trung Ương Thượng Đẳng Thần” lệnh cho dân lập đền thờ quanh năm cúng tế nhằm xiển dương gương sáng của các bậc trung thần hết lòng vì xã tắc (nhà thờ trước ở xóm Quang thuộc Y Xá xã. Sau Cách mạng văn hóa đã bị đám ngu dân đập bỏ hiện chỉ còn sót lại một số dấu phế tích).

    3. Lê Triều Tham Chính - Thám Hoa Thiều Sĩ Lâm

    Đức Thiều Sĩ Lâm và chi họ Thiều ở Cổ Bôn (còn gọi là Kẻ Bôn, địa danh của vùng đất xưa, nay thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) vốn là con cháu họ Thiều từ dòng Nhuận Thạch (xã Đông Tiến) ra Kẻ Bôn lập nghiệp. Tương truyền khi còn nhỏ, ngài rất hiếu học và đặc biệt thông minh, có trí nhớ hơn người. Ngài thích chơi ở gần những nhà có thuê thầy về dạy học và tuy chơi ngoài sân nhưng tai mắt lại để ở trong nhà, chỉ nghe thầy giảng bài qua là thuộc, thời bấy giờ cả vùng ai cũng cho là bậc kỳ tài, thần đồng vậy.

    Niên hiệu Cảnh Trị đời vua Lê Huyền Tông, ngài đi thi đỗ Thám Hoa (khoa Canh Tuất, 1670). Làm quan giữ chức Tham Chính, hàm Nhất phẩm (hiểu như kiểu ban trợ lý, giúp việc cho vua chúa xưa, chuyên can gián, chỉnh đốn chính sự, có ngạch hàm ngang Thứ bộ trưởng bây giờ), ngài sống cần kiệm, ước thúc, thanh liêm, chính trực… nổi tiếng đức cao vọng trọng trong triều. Hiện ở Cổ Bôn vẫn có đền thờ ghi nhớ công lao của ngài.

    4. Thượng Kỳ Tả Cơ Đội trưởng Thiều Văn Thái (? – 10/10 AL)

    Trong gia phả của dòng họ không ghi rõ về ngày tháng năm sinh cũng như ngày mất của đức Thế tôn Thiều Văn Thái tên thật là Thiều kim Bá, tên chữ là Văn Thái, đạo hiệu gọi là Hiền Đạt Tiên Sinh (chỉ biết giỗ ngày 10/10 AL). Chỉ biết, đức Thế tôn sinh ra và lớn lên tại Y Xá xã (thôn Văn Bắc, xã Đông Văn, là dòng dõi của đức Thế tổ Thiều Quy Linh), là võ quan dưới triều nhà Lê (khoảng niên hiệu Cảnh Hưng 1740-1780) với chức vụ Tả Đội trưởng trong “Thượng Kỳ ?”.


    Dưới triều đại nhà Lê, trong quân đội được biên chế rất nhiều đội, ngay trong nội cung cũng có nhiều “Cấm vệ quân” tức là các đội hộ giá của vua và đứng đầu các chức danh này thường được gọi là Đội Trưởng như: Thân cấm binh chánh đội trưởng có phẩm hàm NGŨ PHẨM gọi là Tam đẳng Thị vệ; Thân cấm binh Chánh Đội trưởng suất đội, Tinh binh Chánh Đội có phẩm ngạch hàm Tòng Ngũ phẩm và được gọi là TỨ ĐẲNG THỊ VỆ. Việc gia phả không thể hiện được Phẩm ngạch hàm của đức Thế Tôn, thiết nghĩ đấy là một khiếm khuyết lớn đối với những người viết sử… gia tộc (trong quan chế triều Lê, Cơ to hơn Đội, chức Tả Cơ có hảm Tứ Phẩm trong khi chức Đội là Ngũ Phẩm, kém hẳn một ngạch).



    Còn nữa…

    <><><><><>
    Tp.HCM, ngày 22.9.2015
    Thiều Ngọc Sơn
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  2. #2
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    1.978
    Thanks
    150
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    HỌ THIỀU - MỘT DÒNG HỌ DANH GIÁ TRONG LÒNG DÂN TỘC VIỆT

    Tiếp theo...


    5. Võ Huân Tướng Công – Lực Sĩ Hiệu Úy Thiều Văn Hoành

    Cùng với các địa danh như núi Đào, thôn Nhuận Thạch, làng Triệu Xá, Phù Lưu… Y Xá có thể được coi là khởi nguồn, nơi phát tích của dòng họ Thiều Việt Nam. Theo phả ký, đức Thế tổ Thiều Thốn lấy ba người vợ, vợ cả là Công chúa Trần Thị Ngọc Chiêu; vợ thứ hai người gốc Phù Lưu (nay là thôn Tân Lê, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn) và người vợ thứ ba chính là thứ mẫu đẻ ra đức Thế tôn Thiều Kim Hoa (con trai út của Thế tổ Thiều Kim Thốn).

    Xã Đông Văn (huyện Đông Sơn) nói chung và thôn Văn Bắc (xưa gọi Y Xá xã) nói riêng là một miền quê thuần Việt hiền hòa, nằm ở phía Nam của huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Làng thuộc thế đất Tọa Càn hướng Tốn, phía sau tựa núi Ngàn Nưa (nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Bà Triệu), phía trước là cánh đồng lúa xanh bát ngát lại lấy núi Son núi Thiều cùng dãy An Hoạch Sơn (núi Nhồi, nơi có hòn Vọng phu) chắn gió từ phía biển thổi vào. Hữu Bạch hổ lấy núi Văn chinh, tả Thanh long là dãy Phượng lĩnh hiền hòa… có thể nói Y Xá xã quả là mảnh đất lành, tiềm tàng thế hưng vượng.


    Thế Tôn Thiều Văn Hoành tên chữ là Phúc ( 福) hiệu là Thuần Nhã được sinh ra trên mảnh đất hiền hòa, thấm đậm tình giao hảo, đoàn kết gắn bó giữa hai họ Thiều và họ Trần (đến nay, trong làng chủ yếu vẫn hai họ Thiều - Trần, đi đâu cũng là anh em, không bên cha tất bên mẹ), lại có truyền thống gia đình danh gia vọng tộc, nhiều đời làm quan lớn trong triều. Bản thân thân phụ Thiều Văn Thái đương chức võ quan tại triều do vậy, Thế tôn Thiều Văn Hoành ngay từ nhỏ đã lộ rõ chí khí của bậc trượng phu, tư chất thông minh dĩnh ngộ hơn người. Ngoài việc học hành, cậu bé Hoành thường ngày đêm trau dồi võ nghệ, tụ tập trai tráng, hào kiệt các nơi luận bàn binh pháp. Với võ nghệ cao cường cùng sức khỏe “muôn người nạn địch”, mười tám tuổi chàng trai làng Y Xá Thiều Văn Hoành đã trúng truyển Cử Nhân võ vào niên hiệu Cảnh Hưng (景興) năm thứ 40 đời vua Lê Hiển Tông (1780) và được vua sắc phong “Kiệt Trung Tướng Quân Lực Sĩ Hiệu Úy”. Bụng làu thông kinh sử, văn có thể an thiên hạ võ địch muôn người, lại một lòng trung quân ái quốc, biết bắt trước tiền nhân suốt sĩ đồ sống thanh liêm chính trực, thương xót lê dân nên đức Thế Tôn luôn được các bạn bè đồng liêu, muôn quân một lòng mến phục. Ngài được triều đình tin phục và giao giữ nhiều trọng trách như chức Kỵ Úy tướng quân, Vệ Quân Sự Vụ (hàm Tòng Tam phẩm, đây là một chức võ quan quan trọng trông coi về việc quân cơ trong triều),… Cuối đời được vua sắc phong “Võ Huân Tướng Công Thần Võ”, “Vệ Quân Sự Vụ Tham Đốc Hoành Thọ Hầu” (Cần chú ý Tước Hầu侯chỉ đứng sau Tước Vương 王, Tước Công 公… là đến Tước Hầu 侯 , đây là tước quan cực lớn mà các triều đình phong kiến xưa thường chỉ dành để phong cho những người có công lao hay danh vọng lớn. Ví dụ: Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều).
    Đặc biệt, vào triều nhà Nguyễn, vua Khải Định 啟定 (1916-1925) còn sắc phong cho đức Thế Tôn là “Rực Bảo trung Ương Linh Phù Tôn Thần” đồng thời cải tên húy của Thế Tôn là Hoành Uẩn (?) Lại gia tặng “Đoan Túc Tôn Thần”. Đền thờ đức Thế Tôn Hoành Thọ Hầu (tục gọi là Quan lớn hầu), xưa ở trong làng Y Xá, gần chùa Báo Ân… Thật đáng tiếc và đau lòng, sau “Cách mạng”, tất cả “tôn thần” đều được những người “Văn Minh” phá bỏ sạch.



    Còn nữa…

    <><><><><>
    Tp.HCM, ngày 22.9.2015
    Thiều Ngọc Sơn
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

  3. #3
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    234
    Thanks
    31
    Thanked 34 Times in 33 Posts
    HỌ THIỀU HƠN SÁU TRĂM NĂM…



    Họ Thiều hơn sáu trăm năm
    Lúc nào cũng đẹp tựa rằm ánh trăng
    Với “người” ! Ta trẻ như măng
    Bởi chưng sức sống bảo răng… tràn đầy.

    Thiều gia con cháu xum vầy
    Lạ quen, không biết gặp quây quần mừng
    Nghĩa tình chẳng khác nhánh gừng
    Ngàn năm chả đổi thơm lừng… cay cay.

    Người Thiều từ xửa xưa nay
    Khó khăn gian khổ chẳng thay đổi lòng
    Gái hiền mà chẳng cãi chồng
    Chả tâm ganh ghét tranh công với đời.

    Trai Thiều tâm tính tuyệt vời
    Chẳng cờ bài bạc rượu thời… tí thôi !
    Uống cho “thắm” kiểu trầu – vôi
    Vài ly cốt nuốt cho trôi… “sự” đời.

    Trai Thiều thoạt tưởng… lả lơi !
    Nhưng “chuyên” công việc sự người… ít quan
    Xinh giai lại chẳng lăng loàn
    Có chăng “bị” gạ chứ… toàn vô can.

    Người Thiều chẳng có tính gian
    Xưa nay chưa thấy ai “bàn” việc ni ?
    Báo đài tin tức thiếu gì
    Tuyệt không một chữ “gian phi”(1) họ Thiều.


    Người Thiều lành tính ít điêu
    Có sao bảo thế chẳng chiều bớt thêm
    Trong nhà ngoài ngõ ấm êm
    Không thằng ngáo đá “hương”(乡= hương thôn) đêm… giấc nồng.

    Họ Thiều không bán núi sông
    “Quốc gia hữu sự” hết lòng phò nguy
    Gương xưa Thiều Thốn(2) đây chi ?
    Quy Linh(3) tuẫn tiết chết vì nước non.

    Họ Thiều lòng dạ sắt son
    Thiều Hoành(4) Thiều Thái (5) sử còn tạc ghi
    Lê Triều Tham Chính(6)… nữa chi
    Gương xưa hộ quốc chưa khi nào mờ.


    Toàn cảnh đền thờ Trần triều “Kim ngô vệ – Thượng trụ quốc” Thiều Thốn Tướng quân.

    Đào Sơn phát tích lăng cơ(7)
    Đất làm nên những áng thơ lặng thầm
    Họ Thiều hơn sáu trăm năm
    Lúc nào cũng tựa ánh rằm… lung linh !

    Tp. HCM, ngày 02/9/2017
    Người Họ Thiều
    ———————
    (1). Gian phi: kẻ dối trá, phường trộm cắp, chuyên làm những việc trái với luân thường đạo lý, trái pháp luật.

    Đối với họ Thiều, xưa nay con cháu đều kiệm ước, tuân thủ giáo huấn của các bậc phụ huynh, tiền bối. Bởi vậy, dù cuộc sống còn vạn ngàn gian khó nhưng con cháu nhà họ Thiều xưa nay, từ Bắc chí Nam tịnh không thấy (ghi nhận từ báo đài, các hãng truyền hình và thậm chí là phản ánh của các báo phản động, báo lá cải) một trường hợp nào làm điều trái với luân thường đạo lý, trái pháp luật.

    (2). Thiều Thốn (1326 – 1380): Làm quan đời nhà Trần, được các vua nhà Trần coi như bậc đống lương của triều đình và được bao phong “Phụ quốc Thượng tướng công” , “Kim Ngô vệ Phò mã Đô úy”, “Lạng Giang Phòng ngự sứ”. Khi mất được sắc phong “Thượng đẳng phúc thần Đại vương” lệnh cho nhân dân lập đền thờ tự.

    (3). Quy Linh tức Mạ Tặc Thượng Đẳng Thần – Thượng Thư Bộ Lại Thiều Quy Linh (1479-1527).

    Đức ông Thiều Quy Linh tên húy là Lãng, tự là Trực Lương (cháu đời thứ 6 của đức Thiều Thốn, người làng Y Xá, nay là xã Đông Văn, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) thi đỗ Đệ Nhị giáp tiến sĩ (hiện còn trong bia Tiến sĩ ở văn miếu Quốc Tử Giám), làm quan đến chức Lại Bộ Thị Lang kiêm Lễ Bộ Tham tri, Thượng thư Thọ Xuyên Hầu.

    Vào triều vua Lê Chiêu Tông đức Thiều Quy Linh được sung chức Bồi Tòng tả thị lang tháp tùng đoàn sứ thần sang sứ bên Trung Quốc. Khi đoàn sứ thần về đến cầu Long nhĩ, sông Nhị Hà (sông Hồng bây giờ) nghe tin Mạc Đăng Dung bắt và giết chết vua Lê Chiêu Tông (năm 1526), phế truất Cung Hoàng tự lên ngôi lập ra nhà Mạc. Đức ông khóc lóc tiếc thương cho cơ nghiệp nhà Hậu Lê đồng thời chửi bới ngụy Mạc hết lời sau đó nhảy xuống sông Nhị Hà tuẫn tiết. Niên hiệu Thành Thái năm thứ 2 (1890), nhà Nguyễn vì tôn kính gương tuẫn tiết của bậc trung thần bèn sắc phong đức Thiều Quy Linh là “Lại Bộ Thượng Thư Tiết Nghĩa Tôn Thần”, gia phong “Quảng Ý Dực Bảo Trung Ương Thượng Đẳng Thần” lệnh cho dân lập đền thờ quanh năm cúng tế nhằm xiển dương gương sáng của các bậc trung thần hết lòng vì xã tắc (nhà thờ trước ở xóm Quang thuộc Y Xá xã.

    Sau Cách mạng văn hóa, đền thờ của đức Thiều Quy Linh đã bị đám “ngu” quan ra lệnh đập bỏ, hiện chỉ còn sót lại một số dấu phế tích.


    (4). Thiều Hoành tức Võ Huân Tướng Công – Lực Sĩ Hiệu Úy Thiều Văn Hoành

    Đức Thế Tôn Thiều Văn Hoành tên chữ là Phúc ( 福) hiệu là Thuần Nhã được sinh ra trên mảnh đất hiền hòa, thấm đậm tình giao hảo, đoàn kết gắn bó giữa hai họ Thiều và họ Trần (đến nay, trong làng chủ yếu vẫn hai họ Thiều – Trần, đi đâu cũng là anh em, không bên cha tất bên mẹ), lại có truyền thống gia đình danh gia vọng tộc, nhiều đời làm quan lớn trong triều. Bản thân thân phụ Thiều Văn Thái đương chức võ quan tại triều do vậy, Thế tôn Thiều Văn Hoành ngay từ nhỏ đã lộ rõ chí khí của bậc trượng phu, tư chất thông minh dĩnh ngộ hơn người. Ngoài việc học hành, cậu bé Hoành thường ngày đêm trau dồi võ nghệ, tụ tập trai tráng, hào kiệt các nơi luận bàn binh pháp. Với võ nghệ cao cường cùng sức khỏe “muôn người nạn địch”, mười tám tuổi chàng trai làng Y Xá Thiều Văn Hoành đã trúng truyển Cử Nhân võ vào niên hiệu Cảnh Hưng (景興) năm thứ 40 đời vua Lê Hiển Tông (1780) và được vua sắc phong “Kiệt Trung Tướng Quân Lực Sĩ Hiệu Úy”. Bụng làu thông kinh sử, văn có thể an thiên hạ võ địch muôn người, lại một lòng trung quân ái quốc, biết bắt trước tiền nhân suốt sĩ đồ sống thanh liêm chính trực, thương xót lê dân nên đức Thế Tôn luôn được các bạn bè đồng liêu, muôn quân một lòng mến phục. Ngài được triều đình tin phục và giao giữ nhiều trọng trách như chức Kỵ Úy tướng quân, Vệ Quân Sự Vụ (hàm Tòng Tam phẩm, đây là một chức võ quan quan trọng trông coi về việc quân cơ trong triều),… Cuối đời được vua sắc phong “Võ Huân Tướng Công Thần Võ”, “Vệ Quân Sự Vụ Tham Đốc Hoành Thọ Hầu” (Cần chú ý Tước Hầu侯chỉ đứng sau Tước Vương 王, Tước Công 公… là đến Tước Hầu 侯 , đây là tước quan cực lớn mà các triều đình phong kiến xưa thường chỉ dành để phong cho những người có công lao hay danh vọng lớn. Ví dụ: Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều).

    Đặc biệt, vào triều nhà Nguyễn, vua Khải Định 啟定 (1916-1925) còn sắc phong cho đức Thế Tôn là “Rực Bảo trung Ương Linh Phù Tôn Thần” đồng thời cải tên húy của Thế Tôn là Hoành Uẩn (?) Lại gia tặng “Đoan Túc Tôn Thần”. Đền thờ đức Thế Tôn Hoành Thọ Hầu (tục gọi là Quan lớn hầu), xưa ở trong làng Y Xá, gần chùa Báo Ân… Thật đáng tiếc và đau lòng, sau “Cách mạng”, tất cả “tôn thần” đều được những người “Văn Minh” phá bỏ sạch.


    Tượng Phò mã Đô úy Tướng công Thiều Thốn và công chúa Trần Ngọc Hải

    (5). Thiều Thái hay Thiều Văn Thai. Tên thật Thiều kim Bá, tên chữ là Văn Thái, đạo hiệu gọi là Hiền Đạt Tiên Sinh (chỉ biết giỗ ngày 10/10 AL). Đức Thế tôn sinh ra và lớn lên tại Y Xá xã (thôn Văn Bắc, xã Đông Văn, là dòng dõi của đức Thế tổ Thiều Quy Linh), làm võ quan dưới triều nhà Lê (khoảng niên hiệu Cảnh Hưng 1740-1780) chức Thượng Kỳ Tả Cơ Đội trưởng Thiều Văn Thái (? – 10/10 AL).

    (6). Lê Triều Tham Chính – Thám Hoa Thiều Sĩ Lâm

    Đức Thiều Sĩ Lâm và chi họ Thiều ở Cổ Bôn (còn gọi là Kẻ Bôn, địa danh của vùng đất xưa, nay thuộc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) vốn là con cháu họ Thiều từ dòng Nhuận Thạch (xã Đông Tiến) ra Kẻ Bôn lập nghiệp. Tương truyền khi còn nhỏ, ngài rất hiếu học và đặc biệt thông minh, có trí nhớ hơn người. Ngài thích chơi ở gần những nhà có thuê thầy về dạy học và tuy chơi ngoài sân nhưng tai mắt lại để ở trong nhà, chỉ nghe thầy giảng bài qua là thuộc, thời bấy giờ cả vùng ai cũng cho là bậc kỳ tài, thần đồng vậy.

    Niên hiệu Cảnh Trị đời vua Lê Huyền Tông, ngài đi thi đỗ Thám Hoa (khoa Canh Tuất, 1670). Làm quan giữ chức Tham Chính, hàm Nhất phẩm (hiểu như kiểu ban trợ lý, giúp việc cho vua chúa xưa, chuyên can gián, chỉnh đốn chính sự, có ngạch hàm ngang Thứ bộ trưởng bây giờ), ngài sống cần kiệm, ước thúc, thanh liêm, chính trực… nổi tiếng đức cao vọng trọng trong triều. Hiện ở Cổ Bôn vẫn có đền thờ ghi nhớ công lao của ngài.

    (7). Phát tích lăng cơ (基 )tức nơi phát tích của dòng họ, đất có long mạch tốt, cát trạch.

  4. #4
    Senior Member
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    234
    Thanks
    31
    Thanked 34 Times in 33 Posts
    Quảng Nam Lữ Du Ký Sự (4)

    Đại Lộc



    Về thăm đất thăm người Đại Lộc
    Thăm bà con gia tộc họ Thiều
    Nén nhang dâng tổ kính yêu
    Thỏa lòng nguyện ước nắng chiều nhẹ soi.

    Trưởng bối kể rạch ròi nguồn cuội
    Rằng họ ta "trăm suối ngàn sông"
    Giống y "Chúng thủy triều Đông"*
    Cháu con thảy tất, tổ tông... núi Đào**.


    Tự Thanh Hóa chuyển vào Gò Nổi
    Trấn Chiêm Thành trưởng bối khai đao***
    Sánh vai cùng cánh họ Đào
    Huỳnh, Dương, Võ, Nguyễn, Phan, Tào... xiển uy.

    "Man di" đến... lạy quỳ dâng đất
    "Xiêm La" nghe... hầu chật môn quan
    Chấp thư: tiệp báo khải hoàn
    Mãn triều quan - chúng hân hoan chúc mừng.


    Nghe chuyện kể rưng rưng nhớ tổ
    Nhớ người xưa gian khổ khẩn hoang
    Giang Sơn gấm vóc huy hoàng
    Tạc ghi tổ đức vinh quang ngàn đời.

    Đại Lộc, chiều 17.6.2018
    Thiều Ngọc Sơn.
    ---------------------
    *. Chúng thủy triều Đông, thành ngữ tức tất cả các dòng sông đều chảy về Biển Đông, tương đương câu "Trăm sông đổ biển".
    **. Núi Đào, tức núi Đào Sơn, thuộc thôn Nhuận Thạch, nơi phát tích của dòng họ Thiều.
    ***. Tương truyền, vào đời nhà Hồ, từ Thanh Hóa có 2 anh em người họ Thiều làm quan tên Thiều Mạnh Phủ và Thiều Đại Lang được triều đình cử đi kinh lý đất Phương Nam. Khi vào Gò Nổi, thấy non nước hữu tình, nhận biết đây chính đất địa linh bèn dừng chân đồn binh, dạy dân lễ nghĩa, khai khẩn đất hoang... Về sau, cùng với trưởng bối các họ như Nguyễn, Huỳnh, Võ, Phạm, nhị vị trưởng bối dòng tộc Thiều được nhân dân Quảng Nam tôn xưng là Tiền Hiền, lập đền thờ cúng, hương khói muôn đời.

  5. #5
    Administrator
    Tham gia ngày
    Dec 2011
    Bài gửi
    1.978
    Thanks
    150
    Thanked 324 Times in 270 Posts
    CHỬI GIẶC ĐƯỢC PHONG HẦU
    (Mạ tặc thụ phong Hầu)


    Chuyện Tam Quốc xưa của nước Tàu có kể rằng: Vương Lãng (王朗 - ?-228) tự là Cảnh Hưng, tướng cuối thời Đông Hán đánh nhau với Tôn Sách nhưng đánh không lại bèn đầu hàng. Tôn Sách không sát hại ông, chỉ trách mắng rồi thả cho ông được tự do như thường dân ở Khúc A. Về sau, Vương Lãng được Tào Tháo triệu về Hứa Xương cử làm Gián nghị đại phu. Năm 220, Tào Tháo mất, con là Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, tức là Ngụy Văn Đế. Vương Lãng phục vụ nhà Ngụy. Tào Phi sai Vương Lãng cùng các danh sĩ Hoa Hâm, Trần Quần, Hứa Chi viết thư cho Gia Cát Lượng, khuyên Gia Cát nên hiểu rõ thời thế, vận nhà Hán đã suy, nên bỏ Hán sang Ngụy. Gia Cát Lượng nhận thư bèn mang quân đánh Ngụy. Vương Lãng với vai trò quân sư cho Đô đốc Tào Chân và Phó đô đốc Quách Hoài tự tin mình có thể dụ hàng Gia Cát Lượng nên ra trước trận du thuyết Gia Cát bỏ Hán về Ngụy, nhưng Khổng Minh không những không bị khuất phục mà còn mắng Vương Lãng là gian thần nhà Hán, bỏ họ Lưu theo họ Tào là nghịch tặc. Vương Lãng nói không lại, uất quá, từ trên ngựa ngã lăn xuống đất chết tươi.

    Nếu Khổng Minh (TQ), nổi tiếng là người dụng “khẩu hình công” tức dùng võ mồm, dùng lời nói khích bác, chửi mắng đến chết Tư đồ Vương Lãng của nhà Ngụy thì… Ở Việt Nam ta, cũng có. Có không những chỉ một, mà đến hai nhân vật là Lê Giốc (đời nhà Trần) và Thiều Quy Linh (đời nhà Lê sơ). Cả hai nhân vật đều là người của đất xứ Thanh nhưng nổi tiếng không kém. Việc chửi mắng, nhục mạ địch nhân của hai ông, không chỉ khiến kẻ thù khiếp sợ mà còn được các vua chúa đương thời và các triều đại về sau phong “hầu”, ghi vào sử xanh lưu truyền hậu thế.

    Chuyện về hai nhân vật nổi tiếng người xứ Thanh được chép trong sách [Lịch triều hiến chương loại chí], phần “Nhân vật chí”, quyển XII “Bề tôi tiết nghĩa” như sau:

    1. Mạ Tặc Trung Vũ Hầu - Lê Giốc

    Lê Giốc người làng Kẻ Rỵ huyện Đông Sơn (nay là làng Phủ Lý, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), nổi tiếng là người học giỏi, thi đỗ Thái học sinh khoa thi năm Giáp Tuất (1334). Thời vua Trần Nghệ Tông được ban chiếu phong làm An phủ sứ trấn thủ đất Nghệ An.

    Năm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm tiến ra Bắc, đánh vào sông Đại Hoàng (nay là ngã ba Tuần Vương). Quân Trần không chống lại để mất thành Thăng Long vào tay quân Chiêm. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông mang cháu là vua Trần Phế Đế (con Duệ Tông) bỏ chạy. Lê Giốc lúc đó đang giữ chức Kinh Doãn tại kinh thành bị giặc bắt giữ. Ngự Câu vương Trần Húc đầu hàng Chiêm Thành được cử đến phủ dụ, lôi kéo Lê Giốc quy phục nhưng bị ông khinh bỉ, mắng nhiếc đến mức hổ thẹn mà bỏ đi. Quân Chiêm bắt ông quỳ lạy nhưng ông cả giận quát: “Ta là trọng thần nước lớn, há lại lạy mày là quân tiểu man à ?”. Quát xong lại không ngớt lời chửi bới. Khi bị trói mang đi thiêu sống, ông vẫn chửi, lời chửi vang to khiến giặc vô cùng khiếp sợ. Tương truyền khi tiếng chửi vừa dứt thì Lê Giốc cưỡi khói bay lên, chứng kiến cảnh lạ lùng ấy, quân Chiêm cho là người trời vội quỳ xuống bái lạy.

    Việc đến tai triều đình, Lê Giốc được truy phong là “Mạ Tặc Trung Vũ hầu”, lại sai lập đền thờ phụng. Đời Tự Đức, nhà vua có bài thơ vịnh sự trung nghĩa của ông như sau:

    Đời mạt văn tàn võ chẳng trau,
    Quân thua một trận thật là đau.
    Chỉ đem tấc lưỡi la quân giặc,
    Để tiếng ngàn thu “Mạ tặc thần”.

    Ngày nay, ở làng Kẻ Rỵ vẫn còn đền thờ Lê Giốc, ông được dân chúng tôn là Tiên hiền với duệ hiệu là: “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Mạ tặc Trung Vũ Hầu Lê tướng công”. Trong đền thờ có đôi câu đối rằng:

    Mạ tặc trung thần thanh vạn đại,
    Thượng thiên ánh tuyết bạch tam quan.

    Nghĩa là:

    Trung thần chửi giặc tiếng lưu vạn đại,
    Ánh hào quang trên trời vẫn rọi chiếu cửa đền.

    2. Mạ Tặc Tiết Nghĩa Tôn Thần, Thọ Xuyên Hầu - Thiều Quy Linh

    Trong [Lịch triều hiến chương loại chí], phần “Nhân vật chí”, quyển XII “Bề tôi tiết nghĩa” của sử thần Lê Huy Chú viết: "Thiều Quy Linh ở Y Xá xã, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), năm 27 tuổi đỗ Chánh Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1505) đời Đoan Khánh, làm đến Tả Thị lang Bộ Lại, vâng mệnh đi sứ. Khi về nghe tin Mạc đã tiếm ngôi, ông chửi mắng hết lời. Về đến cầu Lung Nhĩ, đâm đầu xuống sông chết".

    Trong gia phả dòng họ Thiều viết về Đức ông Thiều Quy Linh như sau: Thiều Quy Linh sinh 1478 tên húy là Lãng, tự là Trực Lương, cháu đời thứ 6 của đức Thiều Thốn, người làng Y Xá (nay là thôn Y Xá, xã Đông Văn, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa), sinh ra mắt phụng mày ngài, cốt cách thanh tao, mặt đẹp như ngọc. Tự nhỏ đã nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ, học một biết mười. Tính thích dong chơi nơi đồng dã, thường rủ đám trẻ trong làng trèo leo khắp quần thể An Hoạch sơn (núi Nhồi, xưa kia thuộc thôn Nhuệ, xã Đông Hưng nay thuộc phố Tây Sơn và Nam Sơn phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa), núi Son, núi con nít, núi Thiều… vui ngắm cảnh sơn khê và bày các trò chơi lễ nghĩa.

    Năm hai mươi bảy tuổi, niên hiệu Đoan Khánh (端慶) đời vua Lê Uy Mục nhà Lê sơ (Ất Sửu 1505), ông đi thi đỗ Đệ Nhị giáp Tiến sĩ.

    Tính ông khẳng khái, chỉ muốn noi theo Đức Đệ Tam Tổ, Tướng công Thiều Thốn nên một lòng vị quốc, cẩn trọng giữ mình trong sạch, làm quan mà chẳng cầu lợi danh. Học vấn ông quảng bác, văn thơ tao nhã, thoát tục hơn các bậc đồng liêu, được các quan kính trọng, triều đình nhiều lần cất nhắc và giao giữ nhiều trọng trách. Ông làm quan bên Bộ Lại (1), giữ chức Tả Thị Lang kiêm cả chức Lễ Bộ Tham tri (2) bên bộ Lễ. Tuy quan cao, lại chuyên trông coi về các việc xét công, ban tước, phong chức, bãi truất, điều chuyển, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn… nhưng ông vẫn một lòng liêm thẳng, không ăn đút lót của các quan hay phẩm vật, đồ lễ cống tiến của xứ thần các nước di man.

    Vào những năm niên hiệu Quang Thiệu (triều vua Lê Chiêu Tông nhà Lê sơ), Thiều Quy Linh được sung chức Bồi Tòng Tả Thị lang Bộ Lễ vâng mệnh vua Chiêu Tông sang sứ bên Trung Quốc (cùng đi sứ TQ chuyến này còn có Thượng thư Bộ Lại, Tiến sĩ Trương Phu Duyệt, người cùng đỗ Tiến sĩ khoa thi Ất Dậu năm 1505 với ông. Khi về nước Trương Phu Duyệt bị Mạc Đăng Dung bắt ép viết chiếu nhường ngôi nhưng ông không viết nên bị Mạc Đăng Dung bãi chức đuổi về làng. Hành động không a dua với Mạc ngụy của Trương Phu Duyệt được người đời khen là tiết nghĩa và được kể lại trong mục Bề tôi tiết nghĩa, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú). Khi về đến cầu Long nhĩ, sông Nhị Hà (sông Hồng bây giờ) nghe tin Mạc Đăng Dung bắt và giết chết vua Lê Chiêu Tông (năm 1526), phế truất vua Lê Cung Hoàng, tự lên ngôi lập ra nhà Mạc. Đức ông Thiều Quy Linh khóc lóc tiếc thương cho cơ nghiệp nhà Lê, chửi bới ngụy Mạc hết lời rồi nhảy xuống sông Nhị Hà tuẫn tiết.

    Kịp đến thời Lê Trung Hưng, vua Trang Tông lên ngôi lấy niên hiệu Nguyên Hòa. Các quan tâu lên việc Thiều Quy Linh tuẫn tiết, Vua thương xót, lại xét công khó nhọc trong việc đi sứ nhà Minh (bấy giờ là Minh Thế Tông, vua Gia Tĩnh trị vì từ 1521 - 1566) bèn trọng thưởng, truy phong Thiều Quy Linh là Lễ Bộ Thượng thư, tước Thọ Xuyên Hầu. Lệnh cho dân lập đền thờ quanh năm cúng tế nhằm xiển dương gương sáng của các bậc trung thần hết lòng vì xã tắc (nhà thờ Thiều Quy Linh trước ở xóm Quang thuộc Y Xá xã. Sau Cách mạng văn hóa đã bị đập bỏ hiện chỉ còn sót lại một số dấu phế tích) và tôn ông là “Thượng Đẳng Phúc Thần”.

    Vua chúa các triều sau, khi lên ngôi cũng đều có sắc truy phong, tôn ông. Niên hiệu Thành Thái năm thứ 2 (1890), nhà Nguyễn vì tôn kính gương trung liệt của bậc trung thần bèn truy phong đức Thiều Quy Linh là “Lại Bộ Thượng Thư - Mạ Tặc Tiết Nghĩa Tôn Thần”, gia phong “Quảng Ý Dực Bảo Trung Ương - Thượng Đẳng Thần”.

    Việc coi cái chết nhẹ tựa hồng mao, không chịu khuất phục trước kẻ thù, trước kẻ thoán nghịch của hai ông không những khiến kẻ thù khiếp sợ mà còn khiến “Võ lâm quần hùng”, nhân dân, quan gia, vua chúa các triều đại vô cùng cảm kích, ngưỡng vọng và đề cao. Tấm lòng trung nghĩa không tham sống sợ chết, không bán chúa cầu vinh, không bán đứng cái đạo của người “quân tử” trong mình của hai bề tôi Lê Giốc và Thiều Quy Linh thực là gương sáng cho muôn đời sau vậy.

    Tp.HCM, ngày 22.8.2018
    Thiều Ngọc Sơn.
    ---------------------
    Chú thích:

    (1). Bộ Lại hay Lại bộ (吏部) tên cơ quan hành chính thời xưa. Lại bộ là Bộ giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn. Đứng đầu Bộ Lại là Thượng thư bộ Lại (Lại Bộ Thượng thư).

    (2). Thị lang (侍郎) là chức quan đứng thứ ngay sau Thượng thư (thời kỳ trước triều Nguyễn, khi đó tương đương với Thứ trưởng ngày nay); sang thời Nguyễn chức này đứng ngay sau Tham tri một bộ. Tại Việt Nam, thời Hồng Đức, đặt Tả, Hữu Thị lang là quan phó của các Thượng thư tại Lục bộ, trật Tòng tam phẩm.

    (3). Tham tri: Tham tri (參知), một chức vụ đặc biệt thời Nguyễn được đặc bổ tại các bộ trong Lục bộ, trật Tòng nhị phẩm. Tham tri là chức triều đình bổ nhiệm để giúp các quan Thượng thư tại Lục bộ và vì vậy, là chức quan cao cấp thứ 2 trong một bộ, dưới Thượng thư, và trên Thị lang.

    (4). Bộ Lễ hay Lễ bộ (禮部), tương đương với Bộ giáo dục và đào tạo và Bộ văn hóa thông tin ngày nay. Bộ Lễ chuyên giữ việc lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, trường học, thi cử, áo mũ, ấn tín, phù hiệu, chương tấu, biểu văn, sứ thần cống nạp, các quan chầu mừng, tư thiên giám, thuốc thang, bói toán, tăng lục, đạo lục, giáo phường, đồng văn nhã nhạc. Bộ này trông coi việc tổ chức và kiểm soát vấn đề thi cử (thi Nho học khoa cử) chọn người tài ra giúp triều đình.


    Nguồn: http://www.thieugiathivantuyentapluc...uoc-phong-hau/
    Shaojiazhuangzhu 韶家庄主 — 韶玉山

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •